Hiến Chương

MỤC LỤC

HIẾN CHƯƠNG

CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

CHƯƠNG II: TỔ CHỨC

CHƯƠNG III: CHI HỘI

CHƯƠNG IV: GIÁO HẠT

CHƯƠNG V: TỔNG HỘI

CHƯƠNG VI: CÁC CƠ QUAN CỦA LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM – HỘI THÁNH PHÚC ÂM

CHƯƠNG VII: QUYỀN TẤN PHONG – BỔ NHIỆM – HƯU TRÍ – NGƯNG CHỨC – CÁCH CHỨC HÀNG GIÁO PHẨM

CHƯƠNG VIII: QUAN HỆ XÃ HỘI

CHƯƠNG IX: SẢN NGHIỆP GIÁO HỘI

CHƯƠNG X: TÍN LÝ

CHƯƠNG XI: TU CHÍNH HIẾN CHƯƠNG

GIÁO LUẬT VÀ KỶ LUẬT

CHƯƠNG I: ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG GIÁO LUẬT

CHƯƠNG II: TỘI VI PHẠM TÍN LÝ

CHƯƠNG III: TỘI VI PHẠM LUÂN LÝ

CHƯƠNG IV: TỘI VI PHẠM TRẬT TỰ TRONG HỘI THÁNH

CHƯƠNG V: CÁC TỘI PHẠM KHÁC

CHƯƠNG VI: KỶ LUẬT

CHƯƠNG VII: NGƯỜI VI PHẠM KỶ LUẬT

CHƯƠNG VIII: NGHIÊM CẤM IN VÀ PHÁT TRUYỀN ĐƠN

CHƯƠNG IX: QUYỀN THAY ĐỔI BẢNG GIÁO LUẬT

Hiến Chương

LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM

HỘI THÁNH PHÚC ÂM

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

ĐIỀU 1: DANH XƯNG

Danh xưng của Hội Thánh là Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm (Inter – Evangelistic Movement / IEM) – Hội Thánh Phúc Âm (Bible Church).

ĐIỀU 2: GIÁO HIỆU VÀ ẤN TÍN

1. Giải thích giáo hiệu:

a. Hình chữ A: Là ANPHA (Khải Huyền 1:17; Êsai 41:4; 44:6; 48:12).

b. Hình chữ O: Là OMEGA (Khải Huyền 1:17; Êsai 41:4; 44:6; 48:12).

– Với ý nghĩa: Chỉ về danh hiệu của Cứu Chúa Jesus (Khải huyền 1:17).

c. Quyển KINH THÁNH: Là Lời Đức Chúa Trời, chính là nền tảng tín lý của Giáo hội – Với câu Kinh Thánh được ghi nơi quyển Kinh Thánh: ÊSAI 54:2-3 bày tỏ khải tượng của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

d. THẬP TỰ GIÁ: Sự cứu rỗi duy nhất cho toàn nhân loại qua sự hy sinh của Cứu Chúa Jesus tại Thập Tự Giá (Giăng 14:6; Công Vụ 4:12; 10:43; Côlôse 2:14-15; I Timô 2:5-6; Hêb 2:14).

e. CHIM BỒ CÂU NGỰ XUỐNG VÀ CŨNG LÀ BIỂU TƯỢNG HÌNH NGỌN LỬA: Chỉ về Đức Thánh Linh (Mathiơ 3:16b; Mác 1:10; Luca 3:22; Giăng 1:32; Êsai 11:2).

2. Ấn Tín:

a. Quy cách:

– Tất cả ấn tín của Tổng Hội, Giáo Hạt, Giáo Khu và Chi hội đều hình tròn, ở giữa là Giáo hiệu; nửa trên là hàng chữ Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm; nửa dưới là hàng chữ Hội Thánh Phúc Âm (hoặc Tổng Hội) hay tên Giáo Hạt, Giáo Khu, Chi hội.

– Kích thước Ấn tín theo quy định của Pháp luật.

– Ấn tín dùng mực đỏ (hoặc xanh), đóng áp lên một phần ba (1/3), phần đầu chữ ký của người có thẩm quyền.

b. Thẩm quyền sử dụng:

– Ban Thường Vụ Tổng Hội, Ban Thường Vụ Giáo Hạt, Ban Thường Vụ Giáo Khu và Quản Nhiệm Chi hội mới có quyền sử dụng Ấn tín, chịu trách nhiệm trước Giáo hội về các cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp ngoại lệ phải được các chức danh trên ủy quyền.

– Không được sử dụng Ấn tín khống chỉ.

c. Trường hợp ấn tín bị thất lạc: Người có thẩm quyền phải thông báo ngay cho toàn thể Hội Thánh cùng các cơ quan hữu quan, đồng thời tiến hành thủ tục xin cấp ấn tín mới.

3. Biểu tượng thường sử dụng:

ĐIỀU 3: MỤC ĐÍCH

Mục đích của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm là kết hiệp những Tín hữu cùng một lòng tin kính Đức Chúa Trời; cùng được cứu rỗi bởi Đức Chúa Jesus Christ; cùng một trách nhiệm trong quyền năng, ân tứ của Đức Thánh Linh; chung một khải tượng để xây dựng Hội Thánh yêu thương nhau như một gia đình, rao giảng Phúc Âm và môn đệ hóa (Mathiơ 16:18; 28:18-20; Rôma 15:20; Êphêsô 1:23; 2:19-22; 3:10; 4:4-6; 11-16; 6:12; I Timôthê 2:4; 3:16; II Timôthê 2:2; I Phi 1:12).

ĐIỀU 4: TÔN CHỈ

Tôn chỉ của Hội Thánh là tôn thờ Đức Chúa Trời Ba Ngôi và yêu thương mọi người, như Lời Chúa dạy: “Hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Đức Chúa Trời và yêu người lân cận như mình” (Mác 12:30-31; Mathiơ 22:37-40; Giăng 15:12; Rôma 13:9; Galati 5:14; Gia cơ 2:8).

ĐIỀU 5: KHẢI TƯỢNG

Khải tượng của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm là:

– Cầu nguyện, rao giảng Phúc Âm và môn đệ hóa muôn dân bởi quyền năng Đức Thánh Linh (Êsai 54:2-3; Mathiơ 28:19-20; I Timôthê 2:3-4; Công Vụ 1:8; I Tê sa lô ni ca 1:5).

– Trong quyền năng Ba Ngôi Đức Chúa Trời khiến mọi người trở nên giống như Đức Chúa Jesus, không phân biệt dân tộc, văn hóa và lãnh thổ (Math 17:5; Giăng 20:21; Phi líp 2:5-11; Rô ma 8:29; II Cor 3:18; I Tes 5:23; I Phi 2:21; I Giăng 3:2).

– Xây dựng mối thông công giữa các chi thể trong thân thể Đấng Christ dựa trên nền tảng Lời Chúa (Công Vụ 2:42; Rôma 12:4-5; I Cô rinh tô 10:17; 12:12-26; Ê phê sô 4:4,16).

ĐIỀU 6: BẢY (07) GIÁ TRỊ

1. Tấm Lòng hướng về Chúa (Ma thi ơ 22:37; Thi thiên 42:1–2; 63:1; Châm 3:5–6; Phi líp 3:7–14).

2. Tập trung vào sứ mạng: Truyền giáo và môn đệ hóa (Math 28:18–20; Công 20:24; 1:8; Rô ma 10:13–15; II Ti-mô-thê 2:2; Giăng 20:21).

3. Được Đức Thánh Linh dẫn dắt (Rô ma 8:14; Giăng 14:16–17, 26; 16:13; Ga-la-ti 5:16, 25).

4. Hết lòng hầu việc Chúa trong sự chính trực, hy sinh và khiêm nhường (Mi chê 6:8; Thi thiên 101:2; Rô ma 12:1; Phi líp 2:3–8; Giăng 13:12–15).

5. Phát triển con người (II Ti-mô-thê 2:2; 1:6–7; Ê-phê-sô 4:11–16; Cô-lô-se 1:28; Châm 27:17)

6. Xây dựng Hội Thánh như gia đình (Ê-phê-sô 2:19; 1 Tim 3:15; Rôma 12: 4–10; Công 2:42–47).

7. Không bao giờ bỏ cuộc (I Cô-rinh-tô 15:58; Hê-bơ-rơ 12:1–3; Phi-líp 3: 13–14; II Tim 4: 7–8).

ĐIỀU 7: TÍN LÝ

Tín lý của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm căn cứ trên Kinh Thánh (Cựu và Tân ước: gồm 66 sách) làm nền tảng cho mọi giải thích và thực hành đức tin, như đã tóm tắt trong Tín lý (Chương XI) của Hiến chương này (Thi thiên 119:160; II Ti mô thê 3:16; Rôma 15:4).

ĐIỀU 8: LỄ NGHI

A. Hai Thánh Lễ:

1. Lễ Báp-têm: (Mathiơ 3:13-17; Mác 1:9-11; Luca 3:21-22; I Côrinhtô 10:2-4; I Phierơ 3:21)

a. Người nhận phép Báp-têm bằng nước phải từ 12 tuổi trở lên, đã tin Chúa ít nhất ba (03) tháng, đã học Giáo lý Báp-têm và được Quản Nhiệm cùng Ban Chấp Sự Chi hội xác nhận đủ điều kiện nhận Báp-têm. Trường hợp một Chi hội có Tín hữu đủ điều kiện nhận phép Báp-têm nhưng không thể cử hành lễ Báp-têm, thì có thể gởi Tín hữu này đến nhận phép Báp-têm tại một Chi hội khác.

b. Chỉ Mục Sư và Mục Sư Nhiệm Chức mới hành lễ Báp-têm. Các trường hợp khác phải được Ban Thường Vụ Tổng Hội hoặc Ban Thường Vụ Giáo hạt ủy quyền.

c. Cả Mục Sư hành lễ và người nhận Báp-têm nên mặc áo lễ (Nếu Hội Thánh thiếu phương tiện, thì có thể linh động trong trang phục nhưng phải kín đáo và trang nghiêm). Mục Sư hành lễ phải đứng trong nước (Trong một số trường hợp đặc biệt Mục Sư hành lễ có thể linh động) và người nhận Báp-têm phải được dìm mình hoàn toàn trong nước. Phải được cử hành trang trọng, nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh (Mathiơ 28:19).

d. Trường hợp đặc biệt (già yếu, tật nguyền, đau ốm,…) không thể xuống nước được, Quản Nhiệm Chi hội cần hội ý với Ban Chấp Sự Chi hội về điều kiện và cách thức thực hiện lễ Báp-têm thích hợp.

2. Lễ Tiệc Thánh: (I Côrinh 10:16-17; 11:23-29; Mathi 26:26-28; Mác 14:22-24; Luca 22:17-20)

a. Bánh: Tượng trưng cho Thân Đức Chúa Jesus.

b. Nước nho: Tượng trưng cho Huyết Đức Chúa Jesus.

c. Hành lễ: Do Quản Nhiệm thực hiện; các Chấp sự hoặc các Tín hữu trung tín phụ lễ. Trong trường hợp đặc biệt Quản Nhiệm có thể ủy quyền cho Chấp sự hành lễ.

d. Giữ lễ: Các Chi hội giữ lễ Tiệc Thánh ít nhất mỗi tháng một (01) lần vào Chúa Nhật đầu tháng, trừ những trường hợp đặc biệt.

e. Người tham dự lễ: Chỉ những Tín hữu đã chịu Báp-têm bằng nước mới được dự Tiệc Thánh; Tín hữu đang bị kỷ luật hoặc bị dứt phép thông công không được dự Tiệc Thánh.

B. Các Giáo Lễ:

1. Lễ Giáng Sinh: Hội Thánh giữ lễ kỷ niệm Chúa Jesus Giáng sinh vào hai (02) ngày chính lễ: 24 và 25 tháng 12 hằng năm. Tuy nhiên, tùy theo điều kiện, nhu cầu, mỗi Chi hội có thể tổ chức các chương trình Lễ kỷ niệm Chúa Giáng sinh trong các ngày thích hợp cho Chi hội mình (Luca 2:11). Hội Thánh nên tổ chức dâng hiến đặc biệt và dành phần lạc hiến này cho quỹ Hội Thánh tự dưỡng.

2. Lễ Thương Khó: Lễ Chúa Jesus chịu thương khó được tổ chức vào tối thứ năm hoặc thứ sáu trước ngày Chúa nhật Phục sinh (Giăng 19:17; Luca 23:33).

3. Lễ Phục Sinh: Lễ kỷ niệm Chúa Jesus sống lại, được cử hành vào sáng Chúa nhật thứ nhất sau ngày 15 Âm lịch và sau ngày 21 tháng 03 Dương lịch (Luca 24:6; Mathiơ 28:6). Hội Thánh nên tổ chức dâng hiến đặc biệt và dành phần lạc hiến này chuyển đến quỹ tương trợ của Tổng Hội.

4. Lễ Thăng Thiên: Sau lễ Chúa Phục sinh bốn mươi (40) ngày, Hội Thánh giữ lễ Thăng Thiên (Thi thiên 68:18; Mác 16:19; Luca 24:50-51; Công Vụ 1:2,9; Hê-bơ-rơ 4:14; 9:24; I Phi 3:22). Hội Thánh nên tổ chức dâng hiến đặc biệt và dành phần lạc hiến này cho quỹ Giáo dục của Giáo Hạt.

5. Lễ Ngũ Tuần: Kỷ niệm Đức Thánh Linh giáng lâm; lễ nầy được cử hành sau Lễ Chúa Thăng thiên mười (10) ngày (Công Vụ 2: 1-4). Hội Thánh nên tổ chức dâng hiến đặc biệt và dành phần lạc hiến này cho công việc truyền giáo của Chi hội.

6. Lễ Tấn phong Mục Sư; Mục Sư Nhiệm Chức và Truyền Đạo: Do Ban Điều Hành Tổng Hội quyết định và tổ chức theo quy định của Giáo hội không phân biệt nam nữ với các điều kiện như trong Chương VIII.

7. Lễ Bổ nhiệm các Chức vụ:

– Bổ nhiệm Quản Nhiệm, phó Quản Nhiệm và Nhân sự Truyền giáo Chi hội được tổ chức tại Chi hội tùy nhu cầu của từng địa phương, theo quyết định của Ban Điều Hành Tổng Hội và thực hiện bởi Ban Điều Hành Giáo Hạt (I Ti-mô-thê 3: 8-13).

– Bổ nhiệm các chức vụ trong Chi hội do Quản Nhiệm Chi hội đề xuất; Ban Điều Hành Giáo Hạt, Giáo Khu quyết định và thực hiện.

– Bổ nhiệm các chức vụ trong Giáo Khu do Ban Điều Hành Giáo Khu đề xuất; Ban Thường Vụ Giáo Hạt quyết định và thực hiện.

– Bổ nhiệm các chức vụ trong Giáo Hạt do Ban Điều Hành Giáo Hạt đề xuất; Ban Thường Vụ Tổng Hội quyết định và thực hiện.

8. Lễ Tạ Ơn (Lễ Cảm Tạ): Được tổ chức khi Chi Hội, Giáo Khu, Giáo Hạt hoặc Tổng Hội muốn bày tỏ lòng biết ơn Chúa cách đặc biệt (Thi thiên 103:1-3; 105:5-6).

9. Lễ Cung hiến Đền thờ (Nhà thờ) hoặc Nhà nguyện: Được tổ chức tại Chi hội do Ban Thường Vụ Giáo Hạt hoặc Tổng Hội thực hiện (II Sử Ký 7:1-11, 12-16).

10. Lễ Thành hôn: (Sáng Thế Ký 2:18-24; I Cô-rinh-tô 11:8-9).

– Hội Thánh chỉ làm Lễ Thành hôn cho những Tín hữu đã chịu phép Báp-têm bằng nước và trung tín đầu phục Chúa trong Hội Thánh.

– Tín hữu sắp làm Lễ Thành hôn phải thông báo cho Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội ít nhất trước hai (02) tháng, để có đủ thời gian chuẩn bị và tham dự Lớp “Hướng Dẫn Hôn Nhân Cơ Đốc” do Chi hội tổ chức.

– Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội phải thông báo cho Hội Thánh về ngày Lễ Thành hôn trước hai (02) tuần lễ.

– Sự kết hôn của đôi nam nữ Tín hữu chính thức phải có giấy công nhận kết hôn hợp pháp (nếu có sự chấp thuận của gia đình thì tốt hơn).

– Mục Sư cử hành Lễ Thành hôn cho Tín hữu tại nơi thờ phượng Chúa, hoặc tại địa điểm thuận tiện.

– Trường hợp kết hôn không phù hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh (đồng huyết thống; cưới hỏi người chưa tin Chúa; kẻ đang có gia đình, sống với nhau trước cưới hỏi), thì Hội Thánh không cử hành hôn lễ. Trong trường hợp kết hôn đồng giới tính thì Hội Thánh không tham gia dưới bất cứ hình thức nào.

– Trường hợp tái hôn không phù hợp Lời Chúa, Hội Thánh không cử hành hôn lễ.

11. Lễ Dâng Con: (Ma-thi-ơ 10:40,42; 18:1-6; Luca 9:48)

– Cha mẹ có trách nhiệm dâng con cho Chúa, Quản Nhiệm Chi hội cử hành lễ.

– Trong trường hợp Chi hội chưa có Quản Nhiệm, Ban Chấp Sự Chi hội mời Mục Sư trong Giáo Hạt, Giáo Khu hành lễ, hoặc giới thiệu cha mẹ con trẻ đến Chi hội khác xin hành lễ.

– Trường hợp chỉ có cha, hoặc mẹ, hoặc người giám hộ có đức tin xin dâng con trẻ, thì vị Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội sẽ xem xét giải quyết.

12. Lễ Tang: (I Cô-rinh-tô 15:23; I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-18).

– Khi Tín hữu qua đời, Mục Sư cử hành lễ tại nhà thờ, nhà nguyện, nhà riêng, hoặc nhà tang lễ, để an ủi tang quyến.

– Trường hợp Tín hữu qua đời có nguyên nhân trái với sự dạy dỗ của Kinh Thánh, thì Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội xem xét giải quyết để an ủi tang quyến.

CHƯƠNG II
TỔ CHỨC

ĐIỀU 9: TRỤ SỞ GIÁO HỘI

38F1 DD6-1 KDC An Sương, Phường Đông Hưng Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

ĐIỀU 10: HỆ THỐNG TỔ CHỨC LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM – HỘI THÁNH PHÚC ÂM & DANH XƯNG

Tổ chức của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm là bốn cấp: Chi hội; Giáo Khu; Giáo Hạt và Tổng Hội.

1. Chi hội: Là Hội Thánh cấp cơ sở địa phương được điều hành bởi Quản Nhiệm và Phó Quản Nhiệm Chi hội, cùng với Ban Chấp Sự, được gọi là Ban Điều Hành Chi Hội.

2. Giáo Khu: Là cấp cơ sở của khu vực, được điều hành bởi Ban Thường vụ và Ban Trưởng lão Giáo Khu, được gọi là Ban Điều Hành Giáo Khu.

3. Giáo Hạt: Là cấp cơ sở của nhiều khu vực, được điều hành bởi Ban Thường vụ và Ban Trưởng lão Giáo Hạt, được gọi là Ban Điều Hành Giáo Hạt.

4. Tổng Hội: Là cấp trung ương của Giáo hội được điều hành bởi Ban Thường vụ, Ban Thường Vụ Dự Bị và Ban Trưởng Lão Tổng Hội, được gọi là Ban Điều Hành Tổng Hội.

ĐIỀU 11: CÁC BAN NGÀNH TRỰC THUỘC TỔNG HỘI CỦA LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM – HỘI THÁNH PHÚC ÂM

Ban Thường vụ, Ban Thường Vụ Dự Bị và Ban Trưởng Lão Tổng Hội tùy theo nhu cầu mà thành lập Hội đồng và các Ban ngành.

ĐIỀU 12: NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC

– Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm là Giáo hội được tổ chức theo nguyên tắc Kinh Thánh là cầu nguyện và bầu cử phiếu kín (Công Vụ 6:3-6; I Cô rinh tô 14:40; Philip 2: 3-4).

– Thời gian bầu cử được bắt đầu tiến hành vào Đại Hội Đồng Tổng Hội lần VII 09/2030 và tiếp tục trong các Đại Hội Đồng Tổng Hội / Mỗi bốn (04) năm.

– Đại Hội Đồng Tổng Hội lần VII 09/2030, sẽ ứng cử và bầu cử Ban Thường Vụ Tổng Hội, Ban Thường Vụ Dự Bị, Ban Trưởng Lão Tổng Hội. Được gọi chung là Ban Điều Hành Tổng Hội.

– Sau mỗi kỳ Đại Hội Đồng Tổng Hội, Ban Thường Vụ Tổng Hội sẽ tổ chức ứng cử và bầu cử Ban Thường Vụ các Giáo Hạt, trong thời gian thuận tiện, sau Đại Hội Đồng Tổng Hội thường kỳ.

– Sau đó, Ban Thường Vụ Giáo Hạt sẽ tổ chức ứng cử (danh sách ứng cử phải được Ban Thường vụ Tổng Hội thông qua) và bầu cử Ban Thường Vụ các Giáo Khu (nếu có) và Quản Nhiệm các Chi hội (Trong Giáo Khu hoặc Giáo Hạt trách nhiệm); trong thời gian thuận tiện và cùng năm tổ chức Đại Hội Đồng Tổng Hội thường kỳ.

– Nguyên tắc này được áp dụng trong tất cả các Đại Hội Đồng Tổng Hội; Hội Đồng Giáo Hạt; Hội Đồng Giáo Khu và Chi hội (Công Vụ 6:3-6).

– Tất cả chức vụ sẽ được công nhận theo nguyên tắc bầu cử phiếu kín sau mỗi bốn (04) năm (trong và sau Đại Hội Đồng Tổng Hội).

ĐIỀU 13: BAN THƯỜNG VỤ TỔNG HỘI

– Ban Thường Vụ Tổng Hội sẽ được công nhận theo nguyên tắc bầu cử phiếu kín (Công Vụ 6:3-6; I Cô rinh tô 14:40; Philip 2: 3-4), trong Đại Hội Đồng Tổng Hội. Và được Ban Tư Vấn Tổng Hội cầu nguyện xác nhận.

ĐIỀU 14: BAN THƯỜNG VỤ TỔNG HỘI DỰ BỊ VÀ BAN TRƯỞNG LÃO TỔNG HỘI

– Ban Thường Vụ Tổng Hội Dự Bị và Ban Trưởng Lão Tổng Hội sẽ được công nhận và cầu nguyện theo nguyên tắc bầu cử phiếu kín bởi Ban Tư Vấn Tổng Hội và Ban Thường Vụ Tổng Hội trong các kỳ Đại Hội Đồng Tổng Hội.

ĐIỀU 15: BAN ĐIỀU HÀNH GIÁO HẠT (BAN THƯỜNG VỤ VÀ TRƯỞNG LÃO GIÁO HẠT)

– Ban Thường Vụ Giáo hạt sẽ được công nhận theo nguyên tắc bầu cử phiếu kín, sau một (01) tháng Đại Hội Đồng Tổng Hội. Danh sách ứng cử Ban Điều hành Giáo Hạt phải được Ban Thường vụ Tổng Hội thông qua. Và được Ban Thường vụ Tổng Hội cầu nguyện xác nhận.

ĐIỀU 16: BAN ĐIỀU HÀNH GIÁO KHU (BAN THƯỜNG VỤ VÀ TRƯỞNG LÃO GIÁO KHU)

– Ban Thường vụ Giáo Khu sẽ được công nhận theo nguyên tắc bầu cử phiếu kín, sau hai (02) tháng Đại Hội Đồng Tổng Hội. Danh sách ứng cử Ban Điều hành Giáo Khu phải được Ban Thường vụ Tổng Hội và Ban Thường vụ Giáo Hạt thông qua và được Ban Thường vụ Giáo Hạt cầu nguyện xác nhận.

ĐIỀU 17: QUẢN NHIỆM, PHÓ QUẢN NHIỆM VÀ BAN CHẤP SỰ CHI HỘI

– Quản Nhiệm, Phó Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội sẽ được công nhận theo nguyên tắc bầu cử phiếu kín, sau hai (02) hoặc ba (03) tháng của Đại Hội Đồng Tổng Hội. Danh sách ứng cử

Quản nhiệm Chi Hội phải được Ban Thường Vụ Tổng Hội thông qua và được Ban Thường vụ Giáo Hạt và Ban Thường vụ Giáo Khu cầu nguyện xác nhận.

ĐIỀU 18: THÀNH PHẦN THAM GIA và CÁCH VẬN HÀNH ỨNG CỬ – BẦU CỬ PHIẾU KÍN

(Công Vụ 6:3-6; I Côrinhtô 14:40; Philip 2: 3-4):

– Tất cả các Tín hữu sinh hoạt chính thức của Chi hội (theo Điều 23) được quyền tham gia ứng cử và bầu cử phiếu kín đối với Quản Nhiệm Chi hội, Phó Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự.

– Tất cả các Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội được quyền tham gia ứng cử và bầu cử phiếu kín Ban Thường Vụ Giáo Khu.

– Ban Điều Hành Giáo Khu và các Quản Nhiệm được quyền tham gia ứng cử và bầu cử phiếu kín Ban Thường Vụ Giáo Hạt.

– Ban Điều Hành Giáo Hạt và Giáo Khu trong các kỳ Đại Hội Đồng Tổng Hội được quyền tham gia bầu cử phiếu kín Ban Thường Vụ Tổng Hội.

CHƯƠNG III
CHI HỘI

ĐIỀU 19: QUYỀN CÔNG NHẬN CHI HỘI

Quyền công nhận Chi hội thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm do Ban Thường Vụ Tổng Hội quyết định.

ĐIỀU 20: PHÂN HẠNG CHI HỘI

Chi hội có 3 hình thức:

1. Chi hội tự quản: có từ 30 Tín hữu trở lên (trừ những trường hợp đặc biệt và được xác nhận bởi Ban Thường Vụ Giáo Hạt), đã được Báp-têm bằng nước, tự túc về tài chánh. Dâng hiến ba phần trăm (03%) về Tổng Hội và bảy phần trăm (07 %) về Giáo Hạt – Giáo Khu (của dâng – dâng hiến vào ngày Chúa Nhật và tài chánh dâng hiến 1/10). Phải trợ cấp cho Quản nhiệm Chi hội trên mức tối thiểu (Theo văn bản của Tổng Hội).

2. Chi hội chưa tự quản: có trên 20 Tín hữu đã được Báp-têm bằng nước nhưng chưa tự túc về tài chính và chưa dâng hiến ba phần trăm (03%) về Tổng Hội và bảy phần trăm (07 %) về Giáo Hạt – Giáo Khu. Chưa trợ cấp cho Quản nhiệm Chi hội trên mức tối thiểu.

3. Chi hội nhánh: gồm trên 15 Tín hữu trở lên, đã được Báp-têm bằng nước, nhưng chưa có người chăn bầy chính thức.

ĐIỀU 21: NHIỆM VỤ CỦA CHI HỘI

1. Chi hội có trách nhiệm: Cầu nguyện, dạy dỗ, thờ phượng Ba ngôi Đức Chúa Trời, thông công và rao giảng phúc âm của Đức Chúa Jesus Christ.

– Vâng phục Lời Đức Chúa Trời xây dựng các lứa tuổi trong Hội Thánh theo khải tượng Chúa ban (Hiến Chương – Chương I – Điều 5 & 6).

– Chấp hành Hiến chương của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm, quyết định của Tổng Hội và biểu quyết của Ban Chấp Sự Chi hội.

2. Gây dựng ngân quỹ cho mọi sinh hoạt của Chi hội, cũng như dâng hiến ít nhất một phần mười (1/10) tài chính hàng tháng vào ngân quỹ Tổng Hội và Giáo Hạt – Giáo Khu [Dâng hiến ba phần trăm (03%) về Tổng Hội và bảy phần trăm (07 %) về Giáo Hạt – Giáo Khu].

ĐIỀU 22: QUYỀN HẠN CỦA CHI HỘI

1. Chi hội tự quản: điều hành công việc Chi hội dưới quyền lãnh đạo của vị Quản Nhiệm, Ban Chấp Sự và đại diện Ban Điều Hành Tổng Hội.

2. Chi hội chưa tự quản: điều hành công việc Chi hội dưới quyền lãnh đạo của vị Quản Nhiệm, Ban Chấp Sự và đại diện Ban Điều Hành Tổng Hội. Chưa tự túc về tài chánh.

3. Chi hội nhánh: điều hành công việc Chi hội nhánh dưới quyền lãnh đạo của vị Quản Nhiệm tạm thời và Ban Điều Hành Giáo Khu; chưa tự túc về tài chánh.

ĐIỀU 23: TÍN HỮU

1. Tín hữu là người đã ăn năn tin nhận Chúa Jesus Christ; đã được Báp-têm bằng nước; vâng phục lời Đức Chúa Trời và kết ước với khải tượng của Chúa ban cho Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm; chấp hành theo những quy định của hiến chương, cùng giáo luật – kỷ luật của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

2. Tín hữu chuyển hoặc nhập Chi hội: các Tín hữu muốn chuyển hoặc nhập Chi hội đều phải có sự đồng ý của vị Quản Nhiệm Chi hội.

3. Trường hợp Tín hữu thuộc hệ phái khác, phải có sự xác nhận của vị Quản Nhiệm trước đó. Phải sinh hoạt ổn định với Hội Thánh thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm trên sáu (06) tháng, thì mới được công nhận là thành viên chính thức.

ĐIỀU 24: BAN CHẤP SỰ CHI HỘI

– Chấp sự là một thánh chức, được Quản Nhiệm Chi hội và các Tín hữu xác nhận, được Ban Thường Vụ Giáo Khu hoặc Giáo Hạt quyết định và thông qua Ban Thường Vụ Tổng Hội.

– Chấp sự phải là Tín hữu chính thức, trên 20 tuổi, đã nhận Báp-têm bằng nước và Báp-têm bằng Đức Thánh Linh ít nhất hai (02) năm, thường xuyên sinh hoạt Chi hội ít nhất một (01) năm, hội đủ phẩm chất, phải có đời sống làm gương như Kinh Thánh dạy và có trách nhiệm trong nền tài chính Chi hội (I Ti-mô-thê 3: 8-13).

– Phải qua chương trình giáo dục căn bản của Chi hội, Giáo Khu hoặc Giáo Hạt.

– Ban Chấp Sự có ít nhất năm (05) người, với nhiệm kỳ của mỗi chấp sự là bốn (04) năm và được tín nhiệm không quá hai (02) nhiệm kỳ (trừ những trường hợp đặc biệt).

ĐIỀU 25: THÀNH PHẦN BAN CHẤP SỰ CHI HỘI

Dưới quyền lãnh đạo của vị Quản Nhiệm và phó Quản Nhiệm. Ban Chấp Sự Chi hội gồm có: thư ký, thủ quỹ và các ủy viên trong các ban ngành.

ĐIỀU 26: NHIỆM VỤ CỦA BAN CHẤP SỰ

– Cùng với Quản Nhiệm Chi hội hoạch định đường lối phát triển Chi hội, chịu trách nhiệm trước Hội Đồng thường niên của Chi hội và Ban Thường Vụ Giáo Khu – Giáo Hạt.

– Điều hành công việc trong Chi hội và chịu trách nhiệm báo cáo sinh hoạt Chi hội với vị Quản Nhiệm và phó Quản Nhiệm Chi hội.

ĐIỀU 27: QUYỀN TRIỆU TẬP VÀ CHỦ TỌA CUỘC HỌP CỦA BAN CHẤP SỰ

– Vị Quản Nhiệm có quyền triệu tập và chủ tọa cuộc họp với Ban Chấp Sự.

– Trong trường hợp cần thiết khi có hai phần ba (2/3) chấp sự yêu cầu triệu tập buổi họp với Ban Chấp Sự, thì vị Quản Nhiệm phải triệu tập và chủ tọa cuộc họp.

– Ban Chấp Sự họp định kỳ ít nhất một (01) tháng một (01) lần.

ĐIỀU 28: QUẢN NHIỆM CHI HỘI

– Quản Nhiệm Chi hội là một thánh chức được ban cho bởi Đức Chúa Trời, do Ban Thường Vụ Giáo Khu hoặc Giáo Hạt xác nhận và bầu cử phiếu kín (Công Vụ 6:3-6; I Cô rinh tô 14:40; Philip 2: 3-4), không phân biệt nam nữ với các điều kiện sau:  Phải có danh tiếng tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh, khôn ngoan trung tín, có tài dạy dỗ, đời sống gương mẫu (Công Vụ 6:3; 20:28; I Ti-mô-thê 3:1-7; I Phi-e-rơ 5:2-3).  Phải có sự kêu gọi trong chức vụ và học qua chương trình giáo dục của Tổng Hội: tương đương hệ Trung cấp Thánh Kinh (Công Vụ 13:1-3; 19:8-10).

ĐIỀU 29: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA QUẢN NHIỆM CHI HỘI

– Cầu nguyện và hoạch định đường lối phát triển Chi hội, chịu trách nhiệm trước hội đồng thường niên của Chi hội và Ban Thường Vụ Giáo Khu – Giáo Hạt.

– Chịu trách nhiệm giảng dạy; tổ chức các ban ngành của Chi hội trong sinh hoạt và cầu nguyện theo đúng lứa tuổi; chăm sóc, thăm viếng; huấn luyện nhân sự, mở Hội Thánh mới.

– Điều hành công việc trong Chi hội và chịu trách nhiệm báo cáo sinh hoạt Chi hội với Ban Thường Vụ Giáo Khu và Giáo Hạt.

– Tài chính của vị Quản Nhiệm Chi hội phải được Ban Chấp Sự Chi hội cung ứng theo quy định chung của Tổng Hội.

– Quản Nhiệm Chi hội và Ban Chấp Sự Chi hội sẽ cùng giải quyết những vấn đề liên quan đến sinh hoạt của Chi hội: khen thưởng, nhắc nhở, cảnh báo, kỷ luật.

ĐIỀU 30: PHÓ QUẢN NHIỆM CHI HỘI

– Phó Quản Nhiệm Chi hội là phụ tá của Quản Nhiệm Chi hội và được bầu cử phiếu kín; không phân biệt nam nữ với các điều kiện sau:  Phải có danh tiếng tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh, khôn ngoan trung tín, có tài dạy dỗ, đời sống gương mẫu (Công Vụ 6:3; 20:28; I Ti-mô-thê 3:1-7; I Phi-e-rơ 5:2-3).  Phải có sự kêu gọi trong chức vụ và học qua chương trình giáo dục của Tổng Hội (Công Vụ 13:1-3; 19:8-10).

– Là người thay thế khi Quản Nhiệm Chi hội vắng mặt và điều hành Chi hội khi được Quản Nhiệm Chi hội ủy quyền.

ĐIỀU 31: HỘI ĐỒNG THƯỜNG NIÊN CHI HỘI

– Khi Chi hội đã phát triển sáu trăm (600) Tín hũu trở lên, thì nên cầu nguyện để tổ chức hội đồng thường niên.

– Hội đồng thường niên Chi hội do vị Quản Nhiệm triệu tập và chủ tọa, được tổ chức trong khoảng thời gian từ tháng mười hai (12) đến tháng một (01) hằng năm và được thông báo trước hai (02) tuần lễ.

ĐIỀU 32: HỘI ĐỒNG BẤT THƯỜNG CHI HỘI

Hội đồng bất thường Chi hội, do vị Quản Nhiệm triệu tập và chủ tọa, được tổ chức khi có việc bất thường, quan trọng, cấp bách mà Ban Chấp Sự không thể giải quyết được và phải được thông báo trước một (01) tuần lễ. Với sự đề nghị của hơn một nửa (1/2) số thành viên Ban Chấp Sự.

ĐIỀU 33: HỘI ĐỒNG BỒI LINH CHI HỘI

Hội đồng bồi linh Chi hội được tổ chức định kỳ do vị Quản Nhiệm triệu tập và chủ tọa nhằm bồi dưỡng tâm linh cho các Tín hữu.

ĐIỀU 34: TRƯỜNG HỢP CHI HỘI KHÔNG TỔ CHỨC CÁC HỘI ĐỒNG CHI HỘI

Trường hợp Chi hội không tổ chức các hội đồng Chi hội. Ban Thường Vụ Tổng Hội có quyền can thiệp, tìm hiểu lý do, và giúp đỡ các Chi hội tổ chức các hội đồng khi cần thiết.

ĐIỀU 35: CÁCH THÀNH LẬP GIÁO KHU

Một Giáo Khu được thành lập khi đã có bốn (04) Chi hội tự quản hoặc ba trăm (300) Tín hữu trở lên.

ĐIỀU 36: BAN ĐIỀU HÀNH GIÁO KHU

Gồm có:

A. Ban Thường Vụ Giáo Khu:

– Gồm từ ba (03) đến năm (05) người do Ban Thường Vụ Giáo Hạt tổ chức bầu cử phiếu kín (Công Vụ 6: 3-6; I Cô rinh tô 14:40; Philip 2: 3-4), thông qua thường vụ Tổng Hội – Phải có kinh nghiệm trên năm (05) năm Quản Nhiệm Hội Thánh, có tiếng tốt, gương mẫu theo tiêu chuẩn thánh kinh.

– Điều hành trực tiếp Giáo Khu, dưới sự cố vấn của Ban Thường Vụ Giáo Hạt và Ban Thường Vụ Tổng Hội.

B. Ban Trưởng lão Giáo Khu:

– Không quá mười hai (12) người, do Ban Thường Vụ Giáo Khu tổ chức bầu cử phiếu kín, dưới sự cố vấn của Ban Thường Vụ Giáo Hạt, thông qua Ban Thường Vụ Tổng Hội.

– Phải có kinh nghiệm trên ba (03) năm Quản Nhiệm Hội Thánh, có tiếng tốt, gương mẫu theo tiêu chuẩn Thánh Kinh.

ĐIỀU 37: THÀNH PHẦN VÀ CÁCH VẬN HÀNH GIÁO KHU

– Đại Diện Thường Vụ Giáo Khu (Giáo Khu Trưởng) mới, sẽ được bầu cử phiếu kín bởi Ban Thường Vụ Giáo Hạt, dưới sự cố vấn của Ban Thường Vụ Tổng Hội.

– Nguyên Đại Diện Thường Vụ Giáo Khu (Giáo Khu Trưởng cũ), sẽ trở thành người cố vấn thuộc linh cho Tân Đại Diện thường vụ Giáo Khu (Giáo Khu trưởng mới).

– Thư ký Giáo Khu – Là thành viên của Ban Thường Vụ Giáo Khu.

– Thủ quỹ Giáo Khu – Là thành viên của Ban Thường Vụ Giáo Khu.

– Ủy viên Giáo Khu – Phụ trách các ban ngành trong Giáo Khu, là thành viên của Ban Trưởng lão Giáo Khu.

– Ban Thường Vụ Giáo Khu và Ban Trưởng lão Giáo Khu tập trung cầu nguyện kiêng ăn và họp định kỳ hàng tháng.

ĐIỀU 38: NHIỆM VỤ VÀ NHIỆM KỲ

– Thực hiện các quyết định từ Ban Thường Vụ Giáo Hạt hay Ban Thường Vụ Tổng Hội của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

– Điều hành các sinh hoạt trong Giáo Khu.

– Nhiệm kỳ thành viên là bốn (04) năm.

ĐIỀU 39: QUYỀN TRIỆU TẬP

– Ban Thường Vụ Giáo Khu có quyền triệu tập và chủ tọa các cuộc họp của Ban Trưởng lão Giáo Khu.

– Trong trường hợp cần thiết khi có 2/3 thành viên trong Ban Trưởng lão Giáo Khu yêu cầu họp, thì đại diện thường vụ Giáo Khu (Giáo Khu trưởng) phải triệu tập và chủ tọa cuộc họp.

– Trường hợp khuyết đại diện thường vụ Giáo Khu (Giáo Khu trưởng) thì thư ký Giáo Khu tạm thời thay thế cho đến khi có quyết định mới, vị này có quyền triệu tập và chủ tọa cuộc họp.

CHƯƠNG IV
GIÁO HẠT

ĐIỀU 40: CÁCH THÀNH LẬP GIÁO HẠT

– Một Giáo Hạt được thành lập khi đã có hai (02) Giáo Khu trở lên.

– Một Giáo Hạt được thành lập khi đã có từ bốn (04) Chi hội tự quản hoặc ba trăm (300) Tín hữu trở lên.

– Khi Giáo Hạt có trên hai ngàn (2.000) Tín hữu thì nên phát triển Giáo Hạt mới.

ĐIỀU 41: BAN ĐIỀU HÀNH GIÁO HẠT: GỒM CÓ

A. Ban Thường Vụ Giáo Hạt: Công Vụ 6:3; Phục Truyền 1:13; I Ti-mô-thê 3:7-13

– Gồm từ ba (03) đến năm (05) người – phải có kinh nghiệm trên tám (08) năm Quản Nhiệm Hội Thánh, có tiếng tốt, gương mẫu theo tiêu chuẩn Thánh Kinh.

– Điều hành trực tiếp Giáo Hạt, dưới sự tư vấn của Ban Thường Vụ Tổng Hội.

B. Ban Trưởng Lão Giáo Hạt: I Phi-e-rơ 5:1-4; Công Vụ 20:28; I Cô-rinh-tô 9:17; I Ti-mô 3:3.

– Tùy theo nhu cầu Giáo Hạt mà quyết định các ủy viên, gồm từ năm (05) đến chín (09) người.

– Phải có kinh nghiệm trên năm (05) năm Quản Nhiệm Hội Thánh, có tiếng tốt, gương mẫu theo tiêu chuẩn Thánh Kinh.

ĐIỀU 42: THÀNH PHẦN VÀ CÁCH VẬN HÀNH

– Đại diện Thường vụ Giáo Hạt (Giáo hạt Trưởng); Giáo Hạt Phó; Thư ký Giáo hạt; Thủ quỹ Giáo Hạt và các Ủy Viên Giáo Hạt.

– Đại Diện Thường Vụ Giáo Hạt (Giáo Hạt Trưởng) mới, sẽ được bầu cử phiếu kín, bởi Ban Thường Vụ Tổng Hội tổ chức. + Nguyên Đại Diện Thường Vụ Giáo Hạt (Giáo Hạt Trưởng cũ), sẽ trở thành người tư vấn thuộc linh cho Tân Đại Diện Thường Vụ Giáo Hạt (Giáo Hạt Trưởng mới).

– Giáo Hạt Phó – Thay thế Giáo hạt Trưởng khi vắng mặt.

– Thư ký Giáo Hạt – Là thành viên của Ban Thường Vụ Giáo Hạt.

– Thủ quỹ Giáo Hạt – Là thành viên của Ban Thường Vụ Giáo Hạt.

– Ủy viên Giáo Hạt – Phụ trách các ban ngành trong Giáo Hạt, là một thành viên của Ban Trưởng lão Giáo Hạt.

– Ban Thường Vụ Giáo Hạt và Ban Trưởng lão Giáo Hạt tập trung cầu nguyện kiêng ăn và họp định kỳ hàng tháng.

ĐIỀU 43: NHIỆM VỤ VÀ NHIỆM KỲ

– Thực hiện các quyết định từ Ban Thường Vụ Tổng Hội của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

– Điều hành các sinh hoạt trong Giáo Hạt.

– Giáo hạt Trưởng phải có trách nhiệm cầu nguyện, chọn lựa và môn đệ hóa người kế nhiệm.

– Nhiệm kỳ thành viên Giáo Hạt là bốn (04) năm – theo Điều 15, Chương II.

ĐIỀU 44: QUYỀN TRIỆU TẬP

– Ban Thường Vụ Giáo Hạt có quyền triệu tập và chủ tọa các cuộc họp của Ban Trưởng lão Giáo Hạt.

– Trong trường hợp cần thiết khi có hai phần ba (2/3) thành viên trong Ban Trưởng lão Giáo Hạt yêu cầu họp, thì Đại Diện Thường Vụ Giáo Hạt (Giáo Hạt Trưởng) phải triệu tập và chủ tọa cuộc họp.

– Trường hợp khuyết Đại Diện Thường Vụ Giáo Hạt (Giáo Hạt Trưởng) thì Giáo Hạt Phó hoặc Thư ký Giáo Hạt tạm thời thay thế cho đến khi có quyết định mới, vị này có quyền triệu tập và chủ tọa cuộc họp.

ĐIỀU 45: LIÊN GIÁO HẠT

– Gồm các Giáo Hạt có địa phận gần nhau, để liên kết trong sự cầu nguyện, giáo dục, thông công và truyền giảng Phúc Âm.

– Liên Giáo hạt sẽ tổ chức hiệp nguyện luân phiên giữa các Giáo Hạt, định kỳ từ một (01) đến hai (02) tháng một lần; với sự tham dự của các Ban Thường Vụ Giáo Hạt và Ban Trưởng lão Giáo Hạt, cũng như các thành viên của Giáo Hạt và Giáo Khu trong khu vực; cùng Ban Thường Vụ Tổng Hội khi cần thiết.

CHƯƠNG V
TỔNG HỘI

ĐIỀU 46: CÁC ĐẠI HỘI ĐỒNG

1. Đại Hội Đồng Tổng Hội họp bốn (04) năm một lần. Thời gian từ tháng Tám đến tháng Chín.

2. Đại Hội Đồng bất thường họp khi cần thiết.

ĐIỀU 47: ĐẠI BIỂU ĐẠI HỘI ĐỒNG TỔNG HỘI

1. Thành phần:

– Thành viên trong Ban Điều Hành Tổng Hội.

– Ban Điều Hành các Giáo Hạt và Giáo Khu.

– Quản Nhiệm các Hội Thánh tự quản.

2. Tiêu chuẩn:

– Đại biểu Đại Hội Đồng phải là những người không vi phạm kỷ luật của Giáo hội và pháp luật Nhà nước giữa hai (02) kỳ Đại Hội Đồng.

3. Nhiệm vụ và quyền hạn:

– Đại biểu Đại Hội Đồng có quyền phát biểu ý kiến và chất vấn Ban Điều Hành Tổng Hội.

– Đại biểu Đại Hội Đồng có trách nhiệm vâng phục nội quy, kỷ luật của Đại Hội Đồng.

– Chỉ Ban Điều Hành các Giáo Hạt có quyền bầu cử phiếu kín Ban Thường Vụ Tổng Hội và chỉ có Ban Thường Vụ Giáo Hạt mới đủ điều kiện ứng cử.

ĐIỀU 48: NHỮNG ĐỀ NGHỊ TRÌNH HỘI ĐỒNG TỔNG HỘI

Các đề nghị trình Đại Hội Đồng Tổng Hội xem xét phải được Ban Điều Hành Giáo Hạt, cùng Ban Điều Hành Tổng Hội thông qua. Trường hợp Ban Thường Vụ Tổng Hội không thông qua, phải giải trình lý do.

ĐIỀU 49: NHIỆM VỤ ĐẠI HỘI ĐỒNG TỔNG HỘI

Ban Điều Hành Tổng Hội có trách nhiệm như sau:

– Cầu nguyện và chỉ định các tiểu ban chuyên môn phục vụ Đại Hội Đồng Tổng Hội.

– Xem xét các báo cáo và giải quyết các vấn đề của Giáo hội.

– Hoạch định đường lối phát triển của Giáo hội (theo Chương I, Điều 5 của Hiến Chương) và ban hành những quyết định cần thiết.

ĐIỀU 50: THÀNH PHẦN BAN ĐIỀU HÀNH TỔNG HỘI

1. Thành phần: Ban Điều Hành Tổng Hội gồm: Ban Thường Vụ Tổng Hội, Ban Thường Vụ Tổng Hội dự bị và Ban Trưởng lão Tổng Hội:

– Ban Thường Vụ Tổng Hội: gồm ba (03) thành viên trở lên.

– Thường vụ Tổng Hội dự bị: thành viên Ban Trưởng lão Tổng Hội, được bổ sung và sẽ thay thế Ban Thường Vụ Tổng Hội dự bị khi có nhu cầu.

– Ban Trưởng lão Tổng Hội: gồm các đại diện thường vụ Giáo Hạt (Giáo Hạt Trưởng) – Nghĩa là mỗi Giáo Hạt chỉ có một (01) đại diện, với danh xưng “Ủy viên Tổng Hội” – Chuyên trách về giáo dục, truyền giáo và cố vấn các ban ngành.

– Các ủy viên Tổng Hội: phục vụ Hội Thánh tùy theo trách nhiệm được giao.

2. Số lượng thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội nhiệm kỳ kế tiếp: do Ban Điều Hành Tổng Hội đương nhiệm cầu nguyện, xem xét, đề xuất với Đại Hội Đồng.

3. Họp định kỳ: cầu nguyện kiêng ăn và họp định kỳ ba (03) tháng một (01) lần, hoặc họp bất thường do Ban Thường Vụ Tổng Hội triệu tập.

ĐIỀU 51: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA BAN ĐIỀU HÀNH TỔNG HỘI

– Cầu nguyện, thảo luận và chỉ định các ủy viên phụ trách các công tác, các ban ngành, các địa bàn của Hội Thánh.

– Cầu nguyện, thảo luận và ban hành các văn bản thực hiện hiến chương như: nội quy, giáo luật, kỷ luật,…

– Có nhiệm vụ: Lãnh đạo các Hội Thánh (Chi Hội) trong Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm, thi hành hiến chương và các quyết nghị của Đại Hội Đồng Tổng Hội.

– Cầu nguyện và bổ nhiệm trưởng các ban ngành.

– Quyết định bổ nhiệm các chức vụ sẽ do Ban Thường Vụ Tổng Hội ký.

– Cầu nguyện, khuyên bảo, ngưng chức và cách chức Ban Điều Hành Giáo Hạt, Giáo Khu và Quản Nhiệm Chi hội, khi vi phạm Hiến Chương, Giáo Luật Và Kỷ Luật. Quyết định ngưng chức hoặc cách chức, sẽ do Ban Thường Vụ Tổng Hội ký.

– Xác định các Giáo Phái Tin Lành thuần túy, các tổ chức văn hóa, xã hội có thể hiệp thông.

– Chịu trách nhiệm chuẩn bị cho các Đại Hội Đồng, trả lời chất vấn của các đại biểu Đại Hội Đồng.

– Quý thành viên trong Ban Điều Hành Tổng Hội không được vắng mặt trong kỳ hiệp nguyện của Ban Điều Hành Tổng Hội. Nếu vắng mặt quá hai (02) quý/ sáu (06) tháng, phải chịu trách nhiệm trước Ban Thường Vụ Tổng Hội.

ĐIỀU 52: NHIỆM KỲ CỦA BAN ĐIỀU HÀNH TỔNG HỘI

– Nhiệm kỳ của Ban Điều Hành Tổng Hội là bốn (04) năm – cũng là thời gian tổ chức các kỳ Đại Hội Đồng và bầu cử phiếu kín (Công Vụ 6:3-6; I Cô rinh tô 14:40; Philip 2: 3-4).

– Mỗi thành viên có thể đảm nhiệm một chức vụ tối đa là hai (02) nhiệm kỳ. Trong trường hợp đặc biệt phải được Đại Hội Đồng Tổng Hội thông qua.

ĐIỀU 53: BAN THƯỜNG VỤ TỔNG HỘI

1. Thành phần: Ban Thường Vụ Tổng Hội gồm:

– Tổng Quản Nhiệm.

– Phó Tổng Quản Nhiệm.

– Tổng Thư Ký.

– Tổng Thủ Quỹ.

– Tổng Ủy Viên.

2. Họp định kỳ: mỗi tháng một (01) lần, hoặc họp bất thường do Ban Thường Vụ Tổng Hội triệu tập.

ĐIỀU 54: NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỔNG HỘI

1. Nhiệm vụ chung:

– Ban Thường Vụ Tổng Hội có nhiệm vụ triển khai các biểu quyết của Ban Điều Hành Tổng Hội.

– Triển khai và giải quyết các việc cấp bách giữa hai (02) kỳ họp của Ban Điều Hành Tổng Hội và chịu trách nhiệm trước Ban Điều Hành Tổng Hội.

– Chịu trách nhiệm về chương trình giáo dục, huấn luyện và trường Kinh Thánh trực thuộc Tổng Hội.

– Cầu nguyện về Tấn phong Mục Sư; công nhận Mục Sư Nhiệm Chức, Truyền Đạo và Nhân sự Truyền giáo.

– Cầu nguyện và bầu cử phiếu kín (Công Vụ 6:3-6; I Cô rinh tô 14:40; Philip 2: 3-4): Ban Thường Vụ Tổng Hội Dự Bị; Ban Trưởng Lão Tổng Hội và Ban Thường Vụ các Giáo Hạt.

– Cầu nguyện, khuyên bảo, ngưng chức và cách chức Ban Điều Hành Giáo Hạt; tạm đình chỉ nhiệm vụ thành viên Ban Thường Vụ Tổng Hội Dự Bị và Ban Trưởng Lão Tổng Hội cho đến kỳ họp Đại Hội Đồng gần nhất, khi có hai phần ba (2/3) thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội chấp thuận.

2. Tổng Quản Nhiệm:

– Lãnh đạo và điều hành chung công việc của Tổng Hội.

– Đại diện cho Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm trước chính quyền và các Giáo Hội bạn; triệu tập và chủ tọa các Đại Hội Đồng; các cuộc họp Ban Điều Hành Tổng Hội.

– Được quyền giảng dạy; thi hành tất cả các thánh lễ, giáo lễ; thăm viếng; kiểm tra tài chánh tại các Hội Thánh địa phương, cho đến các Giáo hạt thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

3. Phó Tổng Quản Nhiệm:

– Phụ tá Tổng Quản Nhiệm, tham mưu cho Tổng Quản Nhiệm các vấn đề nội vụ, xử lý thường vụ thay Tổng Quản Nhiệm trong trường hợp Tổng Quản Nhiệm đi vắng hay vì một lý do nào đó không thể thi hành chức vụ.

– Được quyền giảng dạy; thi hành tất cả các thánh lễ, giáo lễ; thăm viếng; kiểm tra tài chánh tại các Hội Thánh địa phương, cho đến các Giáo Hạt thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

4. Tổng Thư Ký: Tổ chức, điều hành văn phòng Tổng Hội, thừa ủy nhiệm Ban Thường Vụ Tổng Hội khi được Ban Thường Vụ Tổng Hội ủy quyền.

– Tham mưu cho Tổng Quản Nhiệm các vấn đề nội vụ, xử lý thường vụ thay Tổng Quản Nhiệm trong trường hợp Tổng Quản Nhiệm và Phó Tổng Quản Nhiệm đi vắng hay vì một lý do nào đó không thể thi hành chức vụ.

– Được quyền giảng dạy; thi hành tất cả các thánh lễ, giáo lễ; thăm viếng; kiểm tra tài chánh tại các Hội Thánh địa phương, cho đến các Giáo hạt thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

5. Tổng Thủ Quỹ: Quản thủ tài chính, bảo quản sổ sách tài chính của Tổng Hội và tài sản của Tổng Hội; xử lý thường vụ thay Tổng Quản Nhiệm trong trường hợp Tổng Quản Nhiệm, Phó Tổng Quản Nhiệm và Tổng Thư Ký đi vắng hay vì một lý do nào đó không thể thi hành chức vụ.

– Được quyền giảng dạy; thi hành tất cả các thánh lễ, giáo lễ; thăm viếng; kiểm tra tài chánh tại các Hội Thánh địa phương, cho đến các Giáo hạt thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

6. Tổng Ủy Viên: Là thành viên lãnh đạo Tổng Hội, phụ trách công tác lễ tân, văn thư và chịu trách nhiệm lãnh đạo các ban ngành: Phụ Nữ, Tráng Niên, Thanh Thiếu Niên, Thiếu Nhi… cấp Tổng Hội của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

– Xử lý thường vụ thay Tổng Quản Nhiệm trong trường hợp Tổng Quản Nhiệm, Phó Tổng Quản Nhiệm, Tổng thư ký và Tổng thủ quỹ đi vắng hay vì một lý do nào đó không thể thi hành chức vụ.

– Được quyền giảng dạy; thi hành tất cả các thánh lễ, giáo lễ; thăm viếng; kiểm tra tài chánh tại các Hội Thánh địa phương, cho đến các Giáo hạt thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

ĐIỀU 55: CÁCH VẬN HÀNH CỦA BAN TRƯỞNG LÃO TỔNG HỘI

– Giáo hạt Trưởng mới sẽ là đại diện cho Giáo Hạt trong thành phần Ban Trưởng lão Tổng Hội.

– Nguyên Trưởng lão Tổng Hội (Giáo Hạt Trưởng cũ), sẽ trở thành người cố vấn thuộc linh cho Giáo Hạt trưởng mới.

ĐIỀU 56: BAN TƯ VẤN MỤC VỤ TỔNG HỘI

– Là những Giáo sĩ có cùng khải tượng, tín lý với Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm và có thời gian hầu việc Chúa trên năm (05) năm.

– Là những chức vụ nối tiếp từ Ban Thường Vụ Tổng Hội (có đời sống kính sợ Chúa và được Ban Điều Hành Tổng Hội tín nhiệm).

– Là những người đã là thành viên trong Ban lãnh đạo của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm trước đây, có thời gian trở lại gắn bó với Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm ít nhất là hai (02) năm trở lên và phải được trên hai phần ba (2/3) thành viên của Ban Điều Hành Tổng Hội chấp thuận.

– Được quyền giảng dạy; thi hành tất cả các thánh lễ, giáo lễ; thăm viếng; kiểm tra tài chánh tại các Giáo Hạt và Tổng Hội thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm.

– Đây là chức vụ trọn đời để tư vấn về khải tượng, đường hướng, giáo dục, khích lệ, che phủ thuộc linh cho toàn thể các chức vụ và Hội Thánh thuộc Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

– Nếu có đời sống không mẫu mực theo Kinh Thánh và vi phạm Giáo Luật – Kỷ Luật sẽ bị tạm đình chỉ chức vụ với sự thông qua của Ban Tư vấn mục vụ Tổng Hội và Ban Thường Vụ Tổng Hội.

– Chịu trách nhiệm chuẩn bị cho các Đại Hội Đồng (Danh sách ứng cử Ban Thường Vụ Tổng Hội các nhiệm kỳ; Hiến Chương…).

ĐIỀU 57: TRƯỜNG HỢP BAN ĐIỀU HÀNH TỔNG HỘI KHUYẾT THÀNH VIÊN

1. Trường hợp khuyết thành viên: trong nhiệm kỳ nếu khuyết thành viên nào thì Ban Thường Vụ Tổng Hội đề cử một trong các thành viên kiêm nhiệm cho đến khi có Đại Hội Đồng bất thường.

2. Trường hợp khuyết Tổng Quản Nhiệm: Phó Tổng Quản Nhiệm hoặc Tổng Thư Ký triệu tập Ban Điều Hành Tổng Hội chậm nhất một (01) tháng để xác nhận chức vụ quyền Tổng Quản Nhiệm và sự luân phiên lãnh đạo trong Ban Thường Vụ Tổng Hội vẫn cứ tiếp diễn theo quy định cho đến khi có Đại Hội Đồng bất thường.

ĐIỀU 58: ĐẠI HỘI ĐỒNG BẤT THƯỜNG TỔNG HỘI

Đại Hội Đồng bất thường của Tổng Hội được tổ chức khi có việc bất thường, quan trọng và cấp bách mà Ban Thường Vụ Tổng Hội không giải quyết được, hoặc khi có hai phần ba (2/3) thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội, hoặc một phần ba (1/3) tổng số Chi hội yêu cầu.

ĐIỀU 59: TÀI CHÍNH TỔNG HỘI

– Thu nhận từ các Chi hội dâng hiến ít nhất ba phần trăm (3%) tổng thu hàng tháng của Chi hội (Malachi 3: 9-10).

– Thu nhận từ các khoản dâng hiến khác (I Sử ký 29:14).

– Do kế hoạch tự túc.

– Công khai tài chính hằng quý [mỗi ba (03) tháng] với Ban Tư Vấn Tổng Hội và Ban Điều Hành Tổng Hội.

CHƯƠNG VI
CÁC CƠ QUAN CỦA LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM – HỘI THÁNH PHÚC ÂM

ĐIỀU 60: CƠ QUAN CỦA HỘI THÁNH LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM

– HỘI THÁNH PHÚC ÂM:

Các cơ quan do Đại Hội Đồng Tổng Hội, Ban Trưởng lão Tổng Hội được gọi là cơ quan của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm gồm: văn phòng Tổng Hội, trường Kinh Thánh, cơ quan ấn hành văn phẩm Cơ-đốc (nếu có), cơ quan truyền thông đại chúng Cơ-đốc (nếu có) và các cơ quan chuyên trách khác.

CHƯƠNG VII
QUYỀN TẤN PHONG – BỔ NHIỆM – HƯU TRÍ – NGƯNG CHỨC – CÁCH CHỨC HÀNG GIÁO PHẨM

ĐIỀU 61: QUYỀN TẤN PHONG MỤC SƯ; MỤC SƯ NHIỆM CHỨC và TRUYỀN ĐẠO

Ban Thường Vụ Tổng Hội có quyền Tấn phong Mục Sư, Mục Sư Nhiệm Chức và Truyền Đạo theo quy chế riêng.

ĐIỀU 62: TIÊU CHUẨN TẤN PHONG MỤC SƯ, MỤC SƯ NHIỆM CHỨC và TRUYỀN ĐẠO

A. TIÊU CHUẨN TẤN PHONG MỤC SƯ:

– Phải có sự kêu gọi từ Chúa trong chức vụ và học qua chương trình giáo dục của Tổng Hội: Tương đương Cử nhân Mục vụ / Thần học (sinh viên – tốt nghiệp) (Công Vụ 13:1-3; 19:8-10; II Phi 1:10).

– Phải có danh tiếng tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh, khôn ngoan và trung tín (I Ti-mô-thê 3:1-7; Công Vụ 6:3; 20:28).

– Phải xây dựng được ít nhất một (01) Chi hội tự quản (Chương III / Điều 13). + Quản Nhiệm Hội Thánh hoặc phục vụ Chúa kết quả trong chức vụ năm mặt (sứ đồ, tiên tri, thầy giảng tin lành, Mục sư và giáo sư) ít nhất là sáu (06) năm (Ê-phê-sô 4:11; I Phi-e-rơ 5:2-3).

– Trong trường hợp đặc biệt, phải có sự đồng thuận từ Ban Thường vụ Giáo Hạt và được Ban Thường Vụ Tổng Hội chuẩn thuận.

B. TIÊU CHUẨN TẤN PHONG MỤC SƯ NHIỆM CHỨC:

– Phải có sự kêu gọi từ Chúa trong chức vụ và học qua chương trình giáo dục của Tổng Hội: Tương đương Cao đẳng Mục vụ / Thần học (sinh viên – tốt nghiệp) (Công Vụ 13:1-3; 19:8-10; II Phi 1:10).

– Phải có danh tiếng tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh, khôn ngoan và trung tín (I Ti-mô-thê 3:1-7; Công Vụ 6:3; 20:28).

– Quản Nhiệm Hội Thánh hoặc phục vụ Chúa kết quả trong chức vụ năm mặt (Sứ Đồ, Tiên Tri, Thầy Giảng Tin Lành, Mục Sư và giáo sư) ít nhất là bốn (04) năm (Ê-phê-sô 4:11; I Phi 5:2-3).

– Phải xây dựng được ít nhất một (01) Chi hội nhánh (Chương III / Điều 13).

– Trong trường hợp đặc biệt, phải có sự đồng thuận từ Ban Thường vụ Giáo Hạt và được Ban Thường Vụ Tổng Hội chuẩn thuận.

C. TIÊU CHUẨN XÁC NHẬN TRUYỀN ĐẠO :

– Phải có sự kêu gọi từ Chúa trong chức vụ và học qua chương trình giáo dục của Tổng Hội: Tương đương hệ Trung cấp (sinh viên – tốt nghiệp) – (Công Vụ 13:1-3; 19:8-10; II Phi 1:10).

– Phải có danh tiếng tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh, khôn ngoan và trung tín (I Ti-mô-thê 3:1-7; Công Vụ 6:3; 20:28).

– Có nhiệt huyết, tâm tình truyền giáo và phục vụ Chúa kết quả trong chức vụ năm mặt (Sứ Đồ, Tiên Tri, Thầy Giảng Tin Lành, Mục Sư và giáo sư) ít nhất là hai (02) năm (Ê-phê-sô 4:11; I Phi 5:2-3).

– Phải xây dựng được ít nhất một (01) Nhóm Tế Bào hoặc lãnh đạo, giáo viên ban ngành.

ĐIỀU 63: QUYỀN BỔ NHIỆM, NGƯNG CHỨC, CÁCH CHỨC HÀNG GIÁO PHẨM

Ban Thường Vụ Tổng Hội có quyền bổ nhiệm, ngưng chức, cách chức Mục Sư, Mục Sư Nhiệm Chức, Truyền Đạo và các chức vụ khác.

ĐIỀU 64: NHÂN SỰ TRUYỀN GIÁO

Ban Thường Vụ Tổng Hội xét công nhận Nhân sự Truyền giáo thuộc các Giáo Hạt, Giáo Khu và học viên tốt nghiệp Trường Thánh Kinh.

ĐIỀU 65: NGHỈ PHÉP VÀ HƯU TRÍ

1. Nghỉ phép: Ban Điều Hành Tổng Hội, ban thường vụ các Giáo Hạt đương chức đều được nghỉ phép thường niên mười lăm (15) ngày và được hưởng lương tháng mười ba (13) [hỗ trợ thêm một (01) tháng lương / năm].

2. Quy chế hưu trí và quả phụ:

– Ban Điều Hành Tổng Hội xét đơn xin hưu trí của trưởng lão các Giáo Hạt, Giáo Khu, Mục Sư, Mục Sư Nhiệm Chức, Truyền đạo, Nhân sự Truyền giáo từ tuổi sáu mươi lăm (65).

– Tổng Hội định quy chế trợ cấp hưu trí cho các trưởng lão các Giáo Hạt, Giáo Khu, Mục Sư, Mục Sư Nhiệm Chức, Truyền đạo, Nhân sự Truyền giáo và Quả Phụ của Mục Sư.

– Mục Sư, Mục Sư Nhiệm Chức, Truyền đạo, Nhân sự Truyền giáo hưu trí và Quả Phụ của Mục Sư, cùng gia đình cùng bàn giao cơ sở giáo hội (nếu có) trễ nhất là ba (03) tháng sau khi hết nhiệm vụ.

– Chi hội cần quan tâm đến Mục Sư, Mục Sư Nhiệm Chức, Truyền đạo, Nhân sự Truyền giáo, Quả Phụ của Mục Sư đang hưu dưỡng tại địa phương mình, tạo điều kiện thuận lợi cho các vị này cộng tác hầu việc Chúa.

CHƯƠNG VIII
QUAN HỆ XÃ HỘI

ĐIỀU 66: TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI XÃ HỘI

– Yêu thương, cầu nguyện và rao truyền Phúc Âm cứu rỗi cho mọi người. (I Tim 2: 1-2)

– Tôn trọng hiến pháp, luật pháp của nhà nước hiện hành và các quốc gia trên thế giới, khi hiến pháp và pháp luật không đi ngược lại Kinh Thánh.

– Giáo dục Tín hữu về lòng tôn kính Chúa, yêu thương mọi người, sống hòa bình, vâng theo Lời Chúa, tôn trọng pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân, đoàn kết xây dựng Tổ Quốc.

ĐIỀU 67: QUAN HỆ VỚI CÁC TỔ CHỨC TIN LÀNH KHÁC

– Hiệp thông với các hệ phái Tin Lành chân chính, cùng tín lý (Chương X) trên tinh thần: Một Kinh Thánh, Một Đức Chúa Trời, Một Chúa Cứu Thế Jesus, Một Đức Thánh Linh, Một Thân Thể Đấng Christ, Một sứ mạng rao giảng Phúc Âm (Ê-phê-sô 4:4-6; I Ti-mô-thê 2:5).

– Tôn trọng các tổ chức xã hội và các tôn giáo khác.

CHƯƠNG IX
SẢN NGHIỆP GIÁO HỘI

ĐIỀU 68: QUYỀN QUẢN TRỊ SẢN NGHIỆP CỦA LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM – HỘI THÁNH PHÚC ÂM

1. Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm có quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất theo Hiến pháp.

2. Hội đồng Quản trị Sản nghiệp do Ban Thường Vụ Tổng Hội đề cử, có quyền nhân danh Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm quản trị sản nghiệp của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

ĐIỀU 69: QUYỀN CHUYỂN NHƯỢNG VÀ ĐOẠN MÃI

1. Hội Đồng Quản trị sản nghiệp có quyền chuyển nhượng và đoạn mãi theo luật pháp, sau khi được Ban Thường Vụ Tổng Hội chấp thuận.

2. Các quyền quản trị sản nghiệp phải được thực hiện theo đúng luật pháp.

ĐIỀU 70: QUYỀN THU HỒI SẢN NGHIỆP

1. Ban Thường Vụ Tổng Hội có quyền quyết định thu hồi sản nghiệp thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm bị sử dụng trái phép, hoặc không tuân phục tổ chức của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

2. Hội đồng quản trị sản nghiệp chịu trách nhiệm thi hành quyết định của Ban Thường Vụ Tổng Hội.

CHƯƠNG X
TÍN LÝ

ĐIỀU 71: ĐỨC CHÚA TRỜI

– Chỉ có một Đức Chúa Trời Hằng Sống, Vô Hạn, Ngài là Đấng Tạo Hóa.

– Đức Chúa Trời là Đấng Vinh Hiển, Thánh Khiết, Yêu Thương, Nhân Từ, Công Chính, Thành Tín và Quyền Năng tuyệt đối; đáng được muôn loài thờ phượng và tôn vinh.

– Ngài là Đức Chúa Cha, Đấng Tự Hữu và Hằng Hữu, Toàn Ái, Toàn Thiện, Toàn Mỹ, Toàn Năng, Toàn Tri.

– Sáng Thế Kỷ 12:8; 13:4; 26:25; 31:13; Xuất Êdiptô Ký 3:14; Dân Số Ký 23:19; 24:16; Phục Truyền 5:9; 32:15,17; I Côrinhtô 8 :4 – 6; Giêrêmi 10:10; Thi Thiên 7:17; 18:13; 90:2; Đaniên 14:17; 7:22,25; Khải Huyền 5:13-14; 1 Timôthê 1:17; Rôma 16:27; Giăng 3:16, 4:24; Êsai 9:5.

ĐIỀU 72: ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST

– Đức Chúa Jêsus Christ là Ngôi Hai Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Tạo Hóa, đồng thể yếu, đồng quyền, đồng đẳng, hằng hữu với Đức Chúa Cha.

– Đức Chúa Jêsus Christ là Đức Chúa Con, là Ngôi Lời được thai dựng bởi Đức Thánh Linh qua trinh nữ Mary (không hề có người nào được thai dựng giống như vậy).

– Ngài là Đấng Thần Nhân, tức là Đức Chúa Trời trọn vẹn và cũng là con người trọn vẹn, thánh khiết, vô tội tuyệt đối, là Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người, cũng là Cứu Chúa duy nhất của nhân loại.

– Giăng 1:1-3, 3-16, 10-30; Philíp 2:5-8; Côlôse 1:15; I Timôthê 2:5; Châm Ngôn 8:23-31.

ĐIỀU 73: ĐỨC THÁNH LINH

– Đức Thánh Linh là Ngôi Ba Đức Chúa Trời, đồng thể yếu, đồng quyền, đồng đẳng và hằng hữu với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.

– Ngài là Đấng Sáng Tạo, là Thần ngăn trở kẻ tội ác (ma quỷ) để ý chỉ và chương trình của Đức Chúa Trời Ba Ngôi được trọn thành.

– Đức Thánh Linh là Thần Thuyết phục, cáo trách và khiến tội nhân tự cáo về tội lỗi, về sự công chính và về sự phán xét.

– Đức Thánh Linh là Thần Lẽ Thật, ban ơn cứu rỗi, tái sanh, thánh hóa người tin và dẫn dắt Hội Thánh.

– Đức Thánh Linh là Thần thông sáng, khai tâm mở trí người tin, dẫn vào lẽ thật cách trọn vẹn.

– Đức Thánh Linh là Thần Yên Ủi, hỗ trợ đưa dắt và cứu giúp người tin đạt đến bậc thành nhân trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời và bảo hộ họ trong sự cứu rỗi trọn vẹn.

– Đức Thánh Linh là Đấng ban các ân tứ và quyền năng cho kẻ tin để gây dựng thân thể Đấng Christ.

– Giăng 1:12; 14:16-17, 26; 16:7-14; Êphêsô 1:13-14; I Côrinhtô 12-3b, 1:30: 2:10-11; Galati 5:22; II Têsalônica 2:13; Châm Ngôn 8; Êsai 11:2.

ĐIỀU 74: ĐỨC CHÚA TRỜI BA NGÔI

– Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm tin nhận Đức Chúa Trời Ba Ngôi: Đức Chúa Cha là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con là Đức Chúa Trời, Đức Thánh Linh là Đức Chúa Trời. Ba Ngôi hiệp một, đồng đẳng, đồng tánh, đồng thể yếu và hiệp lại làm một Đức Chúa Trời trọn vẹn.

– Sáng Thế 1.3; 26; Ma-thi 28:19; Giăng 14:23; II Côrinh 13:13; Giude 24; Khải Huyền 22:16-19.

ĐIỀU 75: TRONG CUỘC SÁNG TẠO

– Đức Chúa Trời Ba Ngôi đã hoàn thành công cuộc sáng tạo theo ý chỉ và chương trình trọn lành của Ngài.

– Cuộc sáng tạo này được ghi lại trong Kinh Thánh hoàn toàn rõ ràng theo nghĩa đen và thuộc linh, không phải là dụ ngôn hay nghĩa bóng.

– Loài người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và cuộc tạo dựng này không bởi sự tiến hóa hay do quá trình tiến hóa.

– Mọi vật trong vũ trụ đã được Đức Chúa Trời dựng nên muôn vật từ chỗ không có gì (“creatio ex nihilo” Sáng Thế Ký 1:1; Hê-bơ-rơ 11:3), theo quy luật riêng, để chúng sinh sản, bảo tồn và phát triển “tùy theo loại” (Sáng Thế Ký 1:11, 21, 24-25).

– Công cuộc sáng tạo phô bày vinh quang Đức Chúa Trời và đem lại lợi ích, phục vụ cho cuộc sống nhân loại trên thế gian.

– Sáng 1:1 – 2:25; Giăng 1:1-3; Thi Thiên 8:19; Heb 1:1-3; 2:6-7.

ĐIỀU 76: CÔNG CUỘC CỨU RỖI

1. Sự sa ngã:

– Loài người được tạo dựng từ buổi ban đầu tốt lành nhưng đã sa ngã vì không thắng được cám dỗ trong cuộc thử nghiệm. Con người đã sa vào tội lỗi không phải do tình cờ mà do chính sự lựa chọn theo ý riêng.

– Con người bị hư hoại cả thân thể, tâm hồn, tâm linh và lưu truyền tính hư hoại đó cho cả dòng dõi loài người.

– Bị sa ngã, con người ở dưới sự rủa sả, sự định tội và không thể tự giải thoát. Do đó, con người không bao giờ được giải cứu nếu không nhờ đến ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Jêsus Christ.

– Sáng Thế Ký 1:26-28; 3:6-8; Rôma 5:12; II Côrinhtô 11:3; Êphêsô 2:1-3, 8-9; Giăng 1:14; 3:36.

2. Sự chuộc tội:

– Sự cứu rỗi hoàn toàn do ân điển, qua vai trò trung bảo của Con Đức Chúa Trời là Đức Chúa Jêsus Christ, Đấng được Đức Chúa Trời ban sai. Ngài mang lấy hình thể loài người song không hề phạm tội. Theo ý Cha, Ngài vâng phục trọn vẹn, và bởi sự đổ huyết của Ngài trên Thập Tự, trở nên giá chuộc tội nhân loại.

– Sự chết của Chúa Jêsus Christ trên Thập Tự không phải là một hành động tuận đạo, song chính là một sự hy sinh tự nguyện. Ngài chịu đứng vào vị trí tội nhân thay thế cho loài người, sự công chính thế cho sự bất chính, trước luật thánh khiết và công bình tuyệt đối của Đức Chúa Trời.

– Đức Chúa Jêsus Christ đã sống lại từ cõi chết và hiện nay ngồi bên hữu Đức Chúa Trời vinh hiển vốn có từ trước vô cùng. Ngài là Cứu Chúa Trọn Vẹn, là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, là Vua Đời Đời, cảm thương và là Đấng Cầu Thay cho chúng ta trong mọi cảnh ngộ.

– Rôma 3:22, 24-25; 8:30; Philip 2:5-10; Ephêsô 2:8-10; II Côrinh 5:19-21; Héber 4:14-15; 7: 24-26; I Phiero 1:19.

3. Ân điển và sự đổi mới:

– Tội nhân được hưởng ơn cứu rỗi do tin nhận Chúa Jêsus Christ, từng trải sự tái sanh, tức là sự dựng nên mới trong Chúa Cứu Thế Jesus Christ, do sự sống đời đời của Đức Chúa Trời ban cho qua Đức Thánh Linh, hoàn toàn không do nổ lực riêng hoặc do công đức của bất cứ ai khác.

– Đó là sự dựng nên mới vượt trên mọi sự hiểu biết của lý trí, không bởi ý người, không phải bởi nỗ lực riêng hay sự thay đổi về văn hóa, giáo dục để tự đổi mới đời sống; song hoàn toàn do quyền năng của Đức Thánh Linh, bằng sự sống Đấng Christ, bằng lẽ thật của Kinh Thánh. Sự cứu rỗi được bảo đảm bởi quyền phép Đức Chúa Trời, bởi đức tin bền vững và sự ăn năn của mỗi người nơi Đức Chúa Jêsus Christ.

– Do ơn Thần hựu mà chúng ta được hưởng ơn cứu rỗi. Bởi lòng ăn năn và đức tin, khiến đời sống chúng ta đổi mới và bước đi trong sự thuận phục Đức Thánh Linh.

– Giăng 1:12-14; 10: 28-29; II Côrinh 5:17; Galati 2:20; I Phiero 1:23-25; II Phierơ 1:4; Êphê 2:8-9.

ĐIỀU 77: KINH THÁNH

– Kinh Thánh là lời thành văn của Đức Chúa Trời. Được Đức Thánh Linh soi dẫn. Là lẽ thật không sai lầm mà Đức Chúa Trời đã mặc khải và linh cảm cho các trước giả thời Cựu ước và Tân ước.

– Kinh Thánh là sự giải bày về ý chỉ và đường lối của Đức Chúa Trời cho loài người. Kinh Thánh là mực thước cho đức tin và đời sống đạo đức của tín đồ. Do đó, Kinh Thánh là trọng tâm và là tiêu chuẩn tuyệt đối của đời sống tín hữu, là cơ sở mà Đức Chúa Trời sẽ phán xét mọi tư tưởng và hành vi của nhân loại.

– Kinh Thánh gồm Cựu ước (39 sách) và Tân ước (27 sách) là bộ Kinh điển không chỉ hàm chứa lời phán của Đức Chúa Trời mà chính là Lời Đức Chúa Trời ban cho nhân loại.

– Khi nói Kinh Thánh được hà hơi, nghĩa là được Đức Chúa Trời điều khiển các trước giả một cách siêu nhiên bởi Đức Thánh Linh; được Ngài tể trị mọi sự đến đổi mọi điều họ viết trong nguyên bản đều được hướng dẫn khỏi mọi sự sai lầm, vô luận trong bất cứ lãnh vực nào; không hề có tác phẩm nào khác, trước và sau được hà hơi như vậy.

– Kinh Thánh là nền tảng đức tin của Hội Thánh. Hội Thánh có trọng trách tuân thủ và rao truyền Kinh Thánh cho mọi đối tượng, mọi nơi, mọi thời đại.

– Rôma 15:4; 1 Timôthê 3:15; I Phier 1:22-25; II Phie 1: 20-21: Giăng 12:48: Khải Huyền 22:18-19.

ĐIỀU 78: HỘI THÁNH

1. Hội Thánh hữu hình:

– Hội Thánh hữu hình bao gồm những người đã tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ, hiệp nhau bởi giao ước đức tin nơi Phúc Âm, tuân giữ các Thánh lễ do Đức Chúa Trời thiết lập và ban truyền. Hội Thánh hữu hình là những tổ chức được quản trị bởi Luật Thánh của Chúa, thể hiện các ân tứ và đặc quyền theo Lời Chúa dạy.

– Hội Thánh thực thi đại mạng lệnh của Chúa: “Môn đồ hóa muôn dân, Báp- Têm cho mọi kẻ tin trong Danh Cha, Con và Thánh Linh, và dạy họ giữ mọi điều Chúa truyền” (Mathio 28: 19-20).

– Hội Thánh địa phương tự lập để quản trị Hội Thánh. Các Hội Thánh địa phương cùng hiệp nhau trong niềm tin, yêu thương, hiệp một xác quyết qua bản “Tín Điều Các Sứ Đồ” và có trách nhiệm truyền bá Phúc Âm .

– Mathiơ 28:18-20; Mác 12:30-31; 16:15; 1 Côrinhtô 1:1-3; I Phiero 1:22-25; Rôma 10:8-17; Công Vụ 2:42-47; Giảng 17:21-23; Êphêsô 2:19-22; I Timôthê 3:15-16; II Timôthê 4:1-5.

2. Hội Thánh vô hình:

– Những người đã tin nhận Đức Chúa Jêsus Christ được tái sanh bởi quyền phép Đức Thánh Linh, hiệp một trong danh Đức Chúa Jêsus Christ, khắp mọi nơi, mọi thời đại, hiệp nên một thân thể thiêng liêng, mà chính Chúa Jêsus Christ là Đầu.

– Đức Chúa Jêsus Christ là Chủ của Hội Thánh, Ngài nhờ Đức Thánh Linh qua Hội Thánh phô bày vinh hiển của Đức Chúa Trời.

– Hội Thánh vô hình thuộc về Vương Quốc Đức Chúa Trời bao gồm cả thời Cựu ước, Tân ước và Trời Mới Đất Mới.

– Êphêsô 3:10; 5: 22-27; Giăng 17: 21-23; Công Vụ 20:28; Hêbơrơ 12: 22-24; Khải Huyền 19: 6-8: 22:17. 2-3

ĐIỀU 79: CÁC PHÉP BÁP-TÊM

– Lời Kinh Thánh dạy Hội Thánh vâng giữ các phép Báp-tem: Báp-tem bằng nước nhân danh Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh; Báp-tem bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa.

– Mathiơ 3:11; 28: 19-20 ; Luca 3:16; 24:49: Giăng 1:33; Heboro 6: 1-2; Công Vụ 1:5,8; 2: 1-4; 8:12-17; 10:44-48; 11:16.

ĐIỀU 80: ÂN TỨ CỦA ĐỨC THÁNH LINH

– Để kiện toàn Hội Thánh, Đức Thánh Linh ban ân tứ của Ngài cho mọi người tin, không phân biệt ai.

– Ân tứ là quà tặng đến từ Đức Chúa Trời Ba Ngôi nên không một ai có quyền phân biệt, ganh tỵ, hay chiếm độc quyền; cũng không một ai có thể tự tạo hoặc truyền thụ cho người khác.

– Các sự ban cho và ân tứ của Đức Thánh Linh bao gồm :

a. Chức dịch: Sứ đồ, Tiên tri, Mục Sư (Trưởng lão), Giáo sư, người Giảng Tin Lành (Ê-phê-sô 4:11; 1 Cô-rinh-tô 12:27-31; I Phi-e-rơ 5:1-5).

b. Công việc: Dạy dỗ, khuyên bảo, cứu giúp, cai quản, chữa bệnh….

c. Ân Tứ:

1. Mặc khải (Hiểu biết thiêng liêng): Lời khôn ngoan, lời tri thức, phân biệt các thần (linh).

2. Quyền năng (Hành động): Đức tin, chữa bệnh, làm các phép lạ.

3. Lời nói (Nói ra : Nói tiên tri, nổi tiếng mới và sự thông giải tiếng mới.

– Mọi ân tứ đều được thực thi theo nguyên tắc: “có các sự ban cho khác nhau nhưng chỉ một Đức Thánh Linh; có các chức vụ khác nhau nhưng chỉ có một Chúa; có các việc làm khác nhau nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. Mọi điều đó là công việc của đồng một Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người” ( I Côrinh tô 12: 4-11).

– Rôma 12: 3-8; I Côrinhtô 12; Êphêsô 4:4-16; Công Vụ 8: 4-24.

ĐIỀU 81: ÂN TỨ TIẾNG MỚI VÀ ƠN CHỮA BỆNH

1. Ân tứ nói tiếng mới và ân tứ cầu nguyên trong tiếng mới:

– Là ân tứ được ban cho trong ngày đầu tiên của Lễ Ngũ Tuần tại Giêrusalem với mục đích công bố và rao truyền ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho người Do Thái và sau cho người ngoại bang, để hiệp họ nên một trong thân thể là Hội Thánh Chúa trên đất (Công Vụ 2: 8- 17; 10: 44-47; 19: 1-7).

– Ân tứ cầu nguyện trong tiếng mới : Là ân tứ riêng được ban cho loài người để cầu nguyện với Đức Chúa Trời nhằm tự gây dựng chính mình (I Côrinhtô 14: 2-4).

– Ân tứ nói ngôn ngữ mới: Là ân tứ riêng được ban cho loài người, khi họ cần bày tỏ cách chung, phải có người thông giải, nếu không họ phải im lặng (I Corinto 14: 27-28).

– Ân tứ nói tiếng mới khác với ân tứ cầu nguyện trong tiếng mới.

2. Ân tứ cầu nguyện chữa bệnh và phép lạ:

– Là ân tứ được ban cho mọi người tin nhận Chúa Jesus để làm sáng Danh Ngài (Giăng 1:12; Mác 16:17-18, 20, Giăng 14:12-14).

– Là ân tứ Chúa ban cho Hội Thánh khi hiệp nhau xức dầu cầu nguyện và còn tồn tại trải qua các thời đại cho đến ngày Chúa Jêsus trở lại (Gia cơ 5:14-16; Heb 13:8).

– Mọi phép lạ đều do Đức Chúa Trời hành động và do lòng tin của người nhận. Tuy nhiên, phép lạ được ban cho hay không đều hoàn toàn đến từ Đức Chúa Trời tùy ý muốn và thời điểm của Ngài.

– Mác 9:18, 28; Mathiơ 7:21-23; 12:38-45; Giăng 9:3.

3. Cảnh giác về sự lạm dụng của các ân tứ:

– Ân tứ đến từ Đức Chúa Trời, song vẫn có trường hợp con người lạm dụng theo ý riêng và sự xúi dục xác thịt (Công Vụ 8:18-24; Mathiơ 4:3-4; 7:21-23; Luca 4:3).

– Một số Tín hữu Hội Thánh Côrinhtô đã lạm dụng ân tứ nói tiếng mới, gây nên kiêu ngạo, chia rẽ (I Côrinhtô 12:14).

– Nguyên tắc chấn chỉnh: “Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa của sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình” (I Côrinhtô 14:33) và “Ấy vậy, hỡi anh em, hãy trông mong ơn nói tiên tri, và đừng ngăn trở chi về điều nói tiếng lạ. Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự.” (I Côrinhtô 14:39-40).

ĐIỀU 82: ÂN TỨ VÀ BÔNG TRÁI LỚN HƠN HẾT LÀ TÌNH YÊU THƯƠNG

“Hãy nôn nả tìm kiếm tình yêu thương” (I Cô-rinh tô 12:31; 13; 14:1)

ĐIỀU 83: BÔNG TRÁI CỦA ĐỨC THÁNH LINH

– Cơ Đốc Nhân là người có sự sống đời đời do lòng tin nơi Đức Chúa Jesus Christ.

– Sự sống đời đời là sự sống của chính Đức Chúa Trời Ba Ngôi ban cho. Khi có sự sống của Chúa sẽ kết quả bằng bông trái Đức Thánh Linh, được thể hiện qua nếp sống với mục đích tôn vinh Đức Chúa Trời và dắt đem tội nhân về sự cứu rỗi.

– Bông trái Đức Thánh Linh là kết quả đa diện của đời sống ngày càng giống Chúa Jesus và phong phú trong cuộc đời theo Chúa (Giăng 10:10; Galati 5:22: I Phie 1:3-11; II Phi 1:3-9).

ĐIỀU 84: THỜ PHƯỢNG CHÚA VÀ TÔN VINH ĐỨC CHÚA TRỜI

1. Chúa nhật:

– Chúa nhật là ngày thứ nhất trong tuần lễ mà Hội Thánh đầu tiên đã nhóm lại thờ phượng Đức Chúa Trời Ba Ngôi để kỷ niệm ngày Đức Chúa Jêsus từ kẻ chết sống lại (Giăng 20:19, 26; Công Vụ 2:1).

– Chúa nhật còn gọi là ngày của Chúa, ngày yên nghỉ thánh cho dòng dõi mới (Sáng thế ký 2:3; Hêbơrơ 4: 1-10; 10:25: Khải huyền 1:10; Côlôse 2:16).

– Trong ngày Chúa nhật, Hội Thánh hữu hình khắp nơi trên thế giới nghỉ các công việc mình, tùy điều kiện hiệp lại để thờ phượng, tôn vinh Đức Chúa Trời, và giãi bày ơn cứu rỗi cho kẻ chưa tin.

2. Tư gia (Tại nhà riêng): Mỗi gia đình Tín hữu nên giữ Gia đình lễ bái, sự thông công, sự cầu nguyện và hằng bước đi trong sự tin kinh Chúa (Công Vụ 2: 46-47; 28: 30-31; Êphê 6: 1-9, Colose 3: 18-25).

ĐIỀU 85: MỘT GIA ĐÌNH CƠ ĐỐC

– Mọi người phải tôn trọng hôn nhân, chung thủy một vợ, một chồng.

– Hội Thánh không chấp nhận việc ly hôn, ngoại trừ trường hợp ngoại tình. Người sống độc thân phải biệt riêng đời sống cho Chúa.

– Lời Chúa lên án những hình thức luyến ái như: Đồng tính, tiền hôn nhân, ngoại hôn nhân, đa thê, loạn luân, vô luân, tảo hôn, đồng huyết thống [không được kết hôn trong gia tộc từ bốn (04) đời trở xuống].

– Vợ chồng, cha mẹ, con cái và mọi người trong gia đình phải có lòng hiếu thảo, vâng phục, yêu thương, trung tín, thủy chung và tôn trọng nhau.

– Sáng thế kỷ 19:1-11; Lê vi ký 18; Hêbơrơ 13:4; Êphêsô 5:22-23; Mathiơ 19-9; 1 Côrinhtô 7:7-9; Rô ma 1:26-27.

ĐIỀU 86: PHỤC VỤ HỘI THÁNH

– Trách nhiệm của mỗi Tín hữu là thường xuyên tham gia thờ phượng Chúa tại nhà thờ, nhà nguyện, các điểm nhóm.

– Tham gia các sinh hoạt của Hội Thánh bằng sự nhóm họp, thăm viếng, dâng hiến, ca ngợi Chúa, làm chứng, chia sẻ, truyền giảng, công tác gây dựng và phát triển Hội Thánh.

– Công Vụ 1:8; 2:42-47; 8:9; Êphêsô 5:19-20, Hêbơrơ 10:24-25.

ĐIỀU 87: RAO GIẢNG PHÚC ÂM

– Nhiệm mạng trọng yếu mà Chúa Jêsus đã trao phó là mỗi Cơ Đốc Nhân phải trung tín rao truyền Đạo cứu rỗi cho mọi người.

– Ưu tiên công tác truyền giảng Phúc Âm, dù gặp thời hay không.

– Mathiơ 24:14; 28:18-20; Mác 16:15; Công Vụ 1:8; I Timôthê 4:1-5.

ĐIỀU 88: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

1. Yêu thương giúp đỡ:

– Loài người cả nam lẫn nữ đều được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, nên mỗi Cơ-Đốc Nhân kính Chúa thì phải yêu người.

– Mỗi Cơ-Đốc Nhân có trách nhiệm xây dựng xã hội mình đang sống, phải yêu thương, cứu giúp mọi người trong hoàn cảnh khốn khó.

– Tham gia các công tác xã hội tại địa phương, giữ tình đoàn kết, hết lòng phục vụ an sinh xã hội và cầu sự bình an cho mọi người.

– Sáng thế ký 1:26-28; Gia cơ 1:27; 2:14-17; Hêbơrơ 12:14; 1 Timôthê 2:1-2; Mathio 22:37-39.

2. Bổn phận công dân:

– Vâng phục nhà cầm quyền chấp chính vì họ do Đức Chúa Trời lập nên. Cầu nguyện cho nhà cầm quyền để họ được cứu rỗi và thi hành trật tự, công bằng xã hội.

– Tôn trọng pháp luật hiện hành, làm trọn nghĩa vụ công dân theo Lời Chúa dạy.

– Sự tự do của Cơ Đốc Nhân không làm cớ vấp phạm cho kẻ khác.

– Rô ma 13:1-7; 1 Timôthê 2:1-2; Tit 3:1:1 Phierơ 2:13-17; Mathiơ 17:24-27.

ĐIỀU 89: MÔI TRƯỜNG SỐNG

– Thế giới và mọi vật trong thế giới được Đức Chúa Trời dựng nên và bảo tồn. Đức Chúa Trời ban cho loài người quyền cai trị muôn vật.

– Hãy cảm tạ, thụ hưởng và bảo vệ.

– Không vượt quyền tạo hóa.

– Thi Thiên 8:1-9; 96; 97; 100; Michê 6:8.

ĐIỀU 90: SỰ TÁI LÂM CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS CHRIST

– Vì Chúa Cứu Thế đã chết cho tội nhân. Ngài đã phục sinh, thăng thiên, ngự bên hữu ngai Đức Chúa Cha, làm Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm hằng sống đời đời, cầu thay và biện hộ cho người được chọn.

– Từ khi Chúa Jêsus giáng sinh cho đến khi Chúa Jêsus tái lâm là thời đại ân điển. Do sự truyền bá Phúc Âm, Đức Chúa Trời lựa chọn từ trong thế gian những người được biệt riêng gọi là Hội Thánh của Đức Chúa Jêsus Christ. Khi Phúc Âm Cứu rỗi được rao truyền khắp nơi và số người được chọn gia nhập vào Hội Thánh đầy đủ thì Cứu Chúa Jêsus sẽ thình lình từ trời trở lại trần gian này theo thì giờ do Đức Chúa Cha ấn định (Không ai có thể biết trước) để tiếp rước Hội Thánh lên không trung gặp Chúa.

– Sau đó, Chúa Cứu Thế sẽ lập nước bình an, các Thánh đồ sẽ cùng đồng trị với Ngài.

– Khải huyền 2:1-6; Xachari 14:1-4; Mathiơ 24:14, 36 ; Lu ca 21:24; Giăng 14:1-3; Công Vụ 1:7; I Têsalônica 4:13-17; Khải huyền 21.

ĐIỀU 91: SỰ SỐNG LẠI VÀ SỰ XÉT ĐOÁN

– Mọi người sẽ sống lại theo thứ tự riêng. Người tin được sống lại, đồng trị trong Vương quốc Thiên hy niên, người không tin cũng sống lại sau Thiên hy niên để chịu đoán xét.

– Cuối cùng Đức Chúa Trời sẽ thi hành sự phán xét chung, người công chính sẽ vào hưởng sự sống và phước hạnh đời đời trong trời mới, đất mới; còn người khước từ ơn cứu rỗi sẽ bị đoán phạt đời đời (I Tesalônica 4:16; I Côrinhtô 15: 42-44, 53; Công Vụ 4:15; Giảng 5: 28-29; Philip 3:21; Khải huyền 20:10, 11-15, 21:1-8, 22-27).

ĐIỀU 92: BÀI TÍN ĐIỀU CÁC SỨ ĐỒ

“Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn Năng là Cha, là Đấng dựng nên trời đất. Tôi tin Jêsus Christ là Con Độc Sanh của Đức Chúa Trời và Chúa chúng ta. Ngài được thai dựng bởi Đức Thánh Linh sanh bởi nữ đồng trinh Mary, chịu thương khó dưới tay Bôn-sơ-phi-lát, bị đóng đinh trên Thập Tự Giá, chịu chết và chôn, Ngài xuống âm phủ, đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại, Ngài thăng thiên, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời Toàn Năng, từ đó Ngài sẽ trở lại để đoán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin Thánh Linh, tôi tin Hội Thánh phổ thông, sự cảm thông của Thánh đồ, sự tha tội, sự sống lại của thân thể và sự sống đời đời. A Men” (Sáng-thế Ký 1:1; Thi-thiên 19:1; 110:1; Mathio 1:18, 22-33; 16:18; 25:31-32; 27:24-26; 28:5-7; Luca 24:50-51; Giăng 1:1,14; 3:16; 5:28-29; 10:28; 14:16-17; Công Vụ 1:9-11; 2:42; 5:3-4; 10:43; Roma 8:34; I Corinhto 12:12-13; 15:3-4, 17, 42-44; Philip 2:6-11; Ê-phê-sô 1:7, 13-14, 22-23; 4:6; II Timothe 4:1; Heboro 1:3; 10:24-25; I Giăng 5:11-12; Khải Huyền 20:11-15; 21:1-4)

CHƯƠNG XI
TU CHÍNH HIẾN CHƯƠNG

ĐIỀU 93: QUYỀN TU CHÍNH HIẾN CHƯƠNG

– Chỉ có Đại Hội Đồng Tổng Hội mới có quyền tu chính Hiến chương của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm, với điều kiện phải được hai phần ba (2/3) tổng số Đại biểu chấp thuận.

– Trong trường hợp đặc biệt, việc tu chính Hiến chương phải được kiến nghị lên Ban Điều Hành Tổng Hội xét duyệt và phải được tổ chức thông qua trong Đại Hội Đồng Tổng Hội thường kỳ, với điều kiện phải được hai phần ba (2/3) tổng số Đại biểu chấp thuận.

ĐIỀU 94: CÁCH TU CHÍNH HIẾN CHƯƠNG

Đề nghị tu chính Hiến chương do Ban Thường Vụ Tổng Hội đệ trình Đại Hội Đồng Tổng Hội hoặc Hội Đồng Bồi Linh Tổng Hội, có hiệu lực thi hành kể từ ngày Đại Hội Đồng Tổng Hội chấp thuận.

ĐIỀU 95: TỔNG SỐ CHƯƠNG, ĐIỀU CỦA HIẾN CHƯƠNG

– Hiến chương của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm gồm mười một (11) chương, chín mươi năm (95) điều, được Đại Hội Đồng Tổng Hội lần VI – 09 / 2026 (25- 27/ 09/2026) công nhận và có hiệu lực thi hành ngay sau Đại Hội.

– Để thi hành Hiến chương còn có các văn bản, Giáo luật và Kỷ luật. Tuy nhiên, các văn bản này không được trái và xa rời với Kinh Thánh và Hiến chương.

– Tất cả các văn kiện trước đây trái với Hiến chương này đều vô hiệu lực.

LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM
HỘI THÁNH PHÚC ÂM
BAN ĐIỀU HÀNH TỔNG HỘI

Giáo Luật và Kỷ Luật

LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM

HỘI THÁNH PHÚC ÂM

Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm tin nhận Chúa Jesus Christ là đầu Hội Thánh và Hội Thánh là thân thể Ngài, nên các thành viên trong Hội Thánh cần sống và sinh hoạt theo tinh thần vâng giữ Lời Chúa:

“Nếu anh em người phạm tội cùng người, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì người được anh em lại. Vì bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với người, hầu cử lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thành, lại nếu người không chịu nghe Hội thành, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” (Mathiơ 18: 15-17)

“vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình.” (II Cor 5: 14-15)

“Hoặc ăn, hoặc uống hay là làm sự chi khác hãy vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời mà làm.” (I Côrinhtô 10:31).

“Vì Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa sự loạn lạc, bèn là Chúa sự hòa bình” (I Côrinh 14:33).

“Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (I Côrinhtô 14:40).

Vì thế, để Danh Chúa được vinh hiển; uy tín và danh dự của Giáo hội được bảo vệ; Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm thiết lập “Giáo Luật và Kỷ Luật” này để áp dụng cho các sinh hoạt của nội bộ Hội Thánh từ Chi hội cho đến Tổng Hội.

CHƯƠNG I
ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG GIÁO LUẬT

ĐIỀU 1: ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG GIÁO LUẬT

Tất cả thành viên trong Giáo hội, từ Tín hữu đến hàng Giáo phẩm đều phải tuân thủ Giáo luật, bất kỳ ai vi phạm Giáo luật đều phải chịu trách nhiệm theo như Giáo luật này quy định. (Phục Truyền 1:16-17; Mathi 18:15-17; Luca 17:3; I Tim 5:19)

CHƯƠNG II
TỘI VI PHẠM TÍN LÝ

ĐIỀU 2: TỘI VI PHẠM TÍN LÝ

(I Timôthe 1: 3 – 4; 4: 1 – 2; 6: 3 – 5; II Timôthê 2: 23–26; II Phi 3:16)

Khi một hay nhiều người hành động trái với tín lý như đã khẳng định trong phần tín lý, thì bị kể là phạm tín lý.

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm:

a. Trước hết, Quản Nhiệm dùng Kinh Thánh minh giải các tín lý cho đương sự nhằm hiểu rõ, hầu hối cải những điều mình vi phạm.

b. Nếu đương sự không chịu hối cải, thì Quản Nhiệm hiệp với Ban Chấp Sự Chi hội tiếp tục khuyến cáo đương sự, trong thời gian này đương sự bị ngưng dự Tiệc Thánh.

c. Nếu sau ba (03) tháng mà đương sự vẫn không hối cải tội mình đã phạm thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định dứt phép thông công đương sự và trình Hội Thánh thông qua. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn để được Hội Thánh tiếp nhận lại.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định với thời gian như sau:

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Khu vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ sáu (06) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Hạt vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ chín (09) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ mười hai (12) tháng.

CHƯƠNG III
TỘI VI PHẠM LUÂN LÝ

ĐIỀU 3: TỘI BẤT HIẾU

– khinh bỉ, mắng nhiếc, chửi cha mắng mẹ … (Xuất Êdiptô 20:12; Lêvi 19:3; 20:9; Phục 5:16; 27:16; Châm 20:20; 30:17; Mathi 15:4; Mác 7:10; Luca 18:20; Ê-phê-sô 6:1-3.)

1. Tín hữu. Chấp sư vi phạm:

a. Khi có người nào phạm tội bất hiếu, thì Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự khuyến cáo đương sự ăn năn.

b. Nếu sau ba (03) tháng mà đương sự vẫn không hối cải tội mình đã phạm, thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định dứt phép thông công đương sự và trình Hội Thánh thông qua. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn để được Hội Thánh tiếp nhận lại.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định với thời gian như sau:

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Khu vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ sáu (06) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Hạt vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ chín (09) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ mười hai (12) tháng.

ĐIỀU 4: CÁC TỘI NGOẠI TÌNH, TÀ DÂM

(như quan hệ vợ chồng trước hôn nhân, song hôn, cưới vợ đang có chồng, lấy chồng đang có vợ, bỏ vợ, bỏ chồng cách vô cớ), LOẠN LUÂN, VÔ LUÂN, ĐỒNG TÍNH LUYẾN ÁI, TẢO HÔN, ĐỒNG HUYẾT THỐNG : (Xuất Ediptô ký 20:14, 17; Lêvi ký 19:29, 20: 10 – 21; Phục truyền luật lệ ký 18:21; Mathi 5: 27 – 32; Rôma 1: 24 – 28; I Côrinh 5: 1 – 13; Êphêsô 5:3 – 5; Côlôse 3: 5 – 8; Khải huyền 22:15)

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm:

– Khi có người nào phạm tội như trên cách tỏ tường hoặc có bằng chứng [hai (02) nhân chứng trở lên hoặc có vật chứng], thì Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội họp lại thi hành kỷ luật đương sự trong sáu (06) tháng – Trong thời gian này đương sự chỉ được đến Hội Thánh sinh hoạt, nhưng không được dự Tiệc Thánh và bị đình chỉ tất cả mọi công tác liên quan đến Hội Thánh. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn. Nếu đương sự dứt bỏ tội lỗi thì được Hội Thánh tiếp nhận lại và việc phục hồi các chức vụ sẽ do Mục Sư Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự trong Hội Thánh xem xét quyết định. Nếu sau sáu (06) tháng, đương sự không ăn năn sẽ bị Hội Thánh dứt phép thông công.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định với thời gian như sau:

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Khu vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ chín (09) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Hạt vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ mười hai (12) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ mười lăm (15) tháng.

– Sau thời gian kỷ luật, việc phục hồi chức vụ sẽ do Ban Điều Hành cấp cao hơn xem xét quyết định.

CHƯƠNG IV
TỘI VI PHẠM TRẬT TỰ TRONG HỘI THÁNH

ĐIỀU 5: LÀM HUYÊN NÁO MẤT TRẬT TỰ

(I Côrinh 14:33, 40; 10:31)

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm:

a. Trong giờ thờ phượng và các buổi họp của Hội Thánh nếu có một hay nhiều người vô tình hay cố ý vi phạm trật tự công cộng thì Quản Nhiệm phải khuyến cáo. Nếu đương sự không chịu sửa đổi thì phải mời đương sự ra khỏi nơi thờ phượng hoặc ra khỏi nơi họp.

b. Nếu đương sự vi phạm đến lần thứ ba (03) thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự, không cho đương sự dự Tiệc Thánh trong thời gian ba (03) tháng và thông báo công khai giữa Hội Thánh. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định với thời gian như sau:

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Khu vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ sáu (06) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Hạt vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ chín (09) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ mười hai (12) tháng.

ĐIỀU 6: XÚI GIỤC, LẬP BÈ PHÁI, GÂY CHIA RẺ NGHỊCH LẠI LỜI CHÚA

(Dân số 16:2; 26:9-10; Rô-ma 16:17; 1 Corinh 11:17-19; Gia cơ 3:5-8)

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm: Trong sinh hoạt của Hội Thánh nếu có một hay nhiều người xúi giục, lập bè phải, gây chia rẻ nghịch lại Lời Chúa thì Quản Nhiệm phải khuyến cáo. Nếu đương sự ăn năn từ bỏ tội lỗi thì được Hội Thánh tiếp nhận lại và việc phục hồi các chức vụ sẽ do Mục Sư Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự trong Hội Thánh xem xét quyết định. Nếu sau sáu (06) tháng, đương sự không ăn năn sẽ bị Hội Thánh dứt phép thông công.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định.

3. Lưu ý: Những điều khoản trên sẽ không áp dụng cho những sự góp ý thẳng thắn mang tính xây dựng Hội Thánh và Giáo Hội, dựa trên nền tảng Kinh Thánh.

ĐIỀU 7: TỘI TRỘM CẮP, GIAN LẬN, LƯỜNG GẠT, THAM LAM, BẤT TÍN

(Xuất Ediptô ký 20:15; Lê-vi ký 6:1-7; 19:11,13, 35 – 36; Phục truyền 25:13 – 16; Châm ngôn 25:10, 23: Michê 6:11; Mathi 19:18; Êphêsô 4:25; 5:6).

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm:

a. Người nào vi phạm các tội nêu trên dù chưa đến mức bị pháp luật trừng trị thì Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự phải khuyên đương sự ăn năn, bồi hoàn và xây dựng đời sống đạo đức như Lời Chúa dạy – Lê-vi ký 6:1-7.

b. Nếu sau nhiều lần khuyến cáo mà đương sự vẫn không hối cải tội mình đã phạm thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định dứt phép thông công đương sự và trình Hội Thánh thông qua. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn để được Hội Thánh tiếp nhận lại. Tuy nhiên đương sự không được giữ các chức vụ trong Chi hội.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

CHƯƠNG V
CÁC TỘI PHẠM KHÁC

ĐIỀU 8: TỘI ÉP CƯỚI GẢ

(II Cô-rinhtô 6: 14 – 18)

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm:

a. Đối với cha mẹ, thân bằng quyến thuộc hoặc người bảo hộ nào cố ý ép con mình cưới vợ, lấy chồng không hiệp Lời Kinh Thánh dạy, Quản Nhiệm hiệp với Ban Chấp Sự dùng Lời Chúa khuyên can.

b. Nếu đương sự cố ý không nghe các lời khuyến cáo, thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định dứt phép thông công đương sự và thông báo công khai giữa Hội Thánh, Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

ĐIỀU 9: TỘI THỜ CÚNG THẦN TƯỢNG

(Lêvi ký 20:1- 9; Xuất Êdiptô ký 20:2- 6)

1. Tín hữu. Chấp sự vi phạm:

a. Tín hữu nào còn cúng thờ thần tượng, ăn của cúng thần tượng, xem bói, coi tuổi, cầu vong, cầu đồng cốt như người không tin Chúa thì đều phạm tội thờ cúng thần tượng.

b. Đối với Tín hữu phạm tội thờ cúng thần tượng, Quản Nhiệm với Ban Chấp Sự khuyến cáo đương sự phải chấm dứt các hành động vi phạm ấy.

c. Nếu đương sự cố ý không nghe các lời khuyến cáo, thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định dứt phép thông công đương sự và thông báo công khai giữa Hội Thánh, Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

ĐIỀU 10: TỘI CÔNG KHAI BÊU XẤU, SỈ NHỤC

(Châm ngôn 11:9; 10:31)

Một hay nhiều người hiệp lại bêu xấu, sỉ nhục một cá nhân hoặc tập thể Hội Thánh, vô luận dưới bất cứ hình thức nào, hoặc bằng lời nói, thư từ, truyền đơn hoặc dùng các phương tiện truyền thông công cộng khác đều vi phạm tội công khai bêu xấu, sỉ nhục.

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm:

a. Nếu là Tín hữu sau hai (02) lần khuyên can của Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự mà không chịu sửa đổi, hoặc không chấm dứt hành động sai trái của mình thì bị dứt phép thông công và thông báo công khai giữa Hội Thánh, Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn.

b. Nếu là chức viên Ban Chấp Sự, sau hai (02) lần khuyến cáo của Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự. Nếu đương sự cố ý không nghe các lời khuyến cáo, thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định cách chức, dứt phép thông công đương sự và thông báo công khai giữa Hội Thánh, Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

ĐIỀU 11: TỘI HĂM DỌA HÀNH HUNG

(Công Vụ 9:1)

Người nào hăm dọa hoặc hành hung một cá nhân, gia đình hoặc tập thể Hội Thánh, vô luận dưới bất cứ hình thức nào, hoặc bằng lời nói, thư từ, vũ lực đều vi phạm tội hăm dọa hoặc hành hung.

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm: Khi có người nào phạm tội nêu như trên cách tỏ tường hoặc có bằng chứng, thì Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội họp lại khuyến cáo mà đương sự vẫn không sửa đổi hoặc không chấm dứt hành động sai trái của mình, thì bị cách chức, dứt phép thông công. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn nếu đương sự dứt bỏ tội lỗi thì được Hội Thánh tiếp nhận lại.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

ĐIỀU 12: TỘI VU KHỐNG

(Xuất Êdiptô 20:16; 23:1; Thi thiên 101:5; Phục truyền 19:16 – 21; Khải huyền 21:8)

Người nào bịa đặt hoặc phao vu để làm tổn thương và hại đến danh dự, uy tín của bất cứ ai đều phạm tội vu khống.

1. Tín hữu. Chấp sự vi phạm: Khi có người nào phạm tội nêu như trên cách tỏ tường hoặc có bằng chứng, thì Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự Chi hội họp lại khuyến cáo mà đương sự vẫn không sửa đổi hoặc không chấm dứt hành động sai trái của mình, thì bị cách chức, dứt phép thông công. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn nếu đương sự dứt bỏ tội lỗi thì được Hội Thánh tiếp nhận lại nhưng không được giữ các chức vụ trong Chi hội.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

ĐIỀU 13: TỘI CỔ ĐỘNG BẤT HỢP PHÁP

(I Cô-rinh-tô 3: 1 – 8)

Khi một hay nhiều người có thủ đoạn xảo quyệt, khích động người khác, gây hoang mang, xáo trộn trong Hội Thánh, hạ uy tín người khác để đạt được mục tiêu riêng, nếu có bằng chứng thì phạm tội.

1. Tín hữu. Chấp sự vi phạm: Nếu là Tín hữu hoặc chức viên của Ban Chấp Sự sau hai (02) lần khuyên can của Quản Nhiệm và Ban Chấp Sự mà không chịu sửa đổi, hoặc không chấm dứt hành động sai trái của mình thì bị dứt phép thông công và thông báo công khai giữa Hội Thánh, Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự sớm ăn năn.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định (theo Điều 5, câu 2).

ĐIỀU 14: KHÔNG VÂNG PHỤC

(Êphêsô 5:21; 1 Têsalônica 5:12 –13; Hebơrơ 13:17)

Khi người nào tỏ ra ương ngạnh, chống đối không chịu thi hành các quyết định của Quản Nhiệm Chi hội, Ban Chấp Sự Chi hội hay của Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt, Tổng Hội; nghị quyết các Đại Hội Đồng và bất tuân tổ chức của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Ấm như đã quy định trong “Hiến chương” gồm các phần nội quy, “Giáo luật và kỹ luật” của Giáo hội thì bị kể là phạm tội không vâng phục.

1. Tín hữu, Chấp sự vi phạm: Nếu sau ba (03) tháng mà đương sự vẫn không hối cải tội mình đã phạm thì Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự quyết định dứt phép thông công đương sự và trình Hội Thánh thông qua. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn để được Hội Thánh tiếp nhận lại.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định với thời gian như sau:

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Khu vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ sáu (06) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Giáo Hạt vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ chín (09) tháng.

– Thành viên Ban Điều Hành Tổng Hội vi phạm sẽ bị kỷ luật tối thiểu từ mười hai (12) tháng.

ĐIỀU 15: TỘI CỜ BẠC: ĐÁNH BÀI, SỐ ĐỀ, VÉ SỐ, CÁ ĐỘ …), SAY RƯỢU, BIA CÙNG CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN VÀ NHỮNG HÀNH VI TƯƠNG TỰ KHÁC

(Ê phê số 5:18; Phục truyền 32:33; Các Quan 13:4, 7; Châm ngôn 20:1; 21:17; 23:20-21, 30-31; 31: 6; Êsai 5:11, 22; 28:7; Ôsê 4:11).

1. Tín hữu. Chấp sự vi phạm:

– Nếu đương sự không chịu hối cải, thì Quản Nhiệm hiệp với Ban Chấp Sự Chi hội tiếp tục khuyến cáo đương sự, trong thời gian này đương sự bị ngưng dự Tiệc Thánh.

– Nếu sau sáu (06) tháng mà đương sự vẫn không hối cải tội mình đã phạm thì Quản Nhiệm họp Ban chấp sự quyết định dứt phép thông công đương sự và trình Hội Thánh thông qua. Hội Thành cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn để được Hội Thánh tiếp nhận lại.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định.

ĐIỀU 16: TỘI MẠO DANH, LẠM QUYỀN

(I Côrinhtô 1:12; 3:5–6; Công Vụ 19:13-15).

Người nào dù vô ý hay cố ý mạo danh, lạm quyền quyết định những điều vượt quá thẩm quyền đã định của Giáo hội đã được nhắc nhở nhưng vẫn không thay đổi hành vi của mình thì phạm tội mạo danh, lạm quyền. Các quyết định lạm quyền đương nhiên vô hiệu lực và những thiệt hại do các quyết định quá thẩm quyền này gây nên đều do người phạm tội lạm quyền chịu trách nhiệm đầy đủ trước Giáo hội và Luật pháp.

1. Tín hữu. Chấp sự vi phạm: Tùy theo mức độ vi phạm Quản Nhiệm họp Ban Chấp Sự cảnh cáo trước Ban Chấp Sự hoặc toàn thể Chi hội hoặc cách chức, hoặc quyết định dứt phép thông công đương sự và trình Hội Thánh thông qua. Hội Thánh cứ tiếp tục cầu nguyện cho đương sự kịp thời ăn năn để được Hội Thánh tiếp nhận lại.

2. Hàng Giáo phẩm vi phạm: Ban Điều Hành Giáo Khu, Giáo Hạt và Tổng Hội, xem xét giải quyết tùy theo mức độ vi phạm mà áp dụng các biện pháp kỷ luật như giáo luật quy định.

ĐIỀU 17: GIẢI QUYẾT CÁC TRƯỜNG HỢP VI PHẠM GIÁO LUẬT

1. Có bằng chứng rõ ràng. Nếu hành vi phạm tội không chứng minh được thì phải có ít nhất hai (02) người biết rõ về vụ việc làm chứng. Người làm chứng phải chịu trách nhiệm đầy đủ về lời chứng của mình.

2. Khi xét xử phải theo trình tự:

– Thu thập chứng có, đối chứng.

– Quản Nhiệm triệu tập Ban Chấp Sự để xem xét (nếu là Tín hữu, Chấp sự vi phạm).

– Ban Điều Hành Tổng Hội xem xét (nếu là hàng Giáo phẩm).

– Trong trường hợp triệu tập đương sự hợp lệ ba (03) lần mà đương sự vẫn vắng mặt (trừ trường hợp đau yếu, trong vùng thiên tai, giao thông đứt đoạn …), thì cấp thẩm quyền liên quan xét xử quyết định.

3. Tất cả các vi phạm Giáo luật và xử lý vi phạm đều phải lập thành biên bản gởi đến Ban Thường vụ các cấp cầu nguyện, suy xét và xử lý. Trong trường hợp đặc biệt hoặc người vi phạm thuộc hàng Giáo phẩm thì biên bản sẽ được chuyển đến Ban Thường Vụ Tổng Hội xem xét.

CHƯƠNG VI
KỶ LUẬT

ĐIỀU 18: CHỦ TỌA HỘI ĐỒNG

1. Chủ tọa phải có thái độ vô tư khi hướng dẫn Hội Đồng.

2. Chủ tọa phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của Đại biểu.

3. Chủ tọa phải dung hòa các ý kiến cách khách quan để Hội Đồng giải quyết.

ĐIỀU 19: ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG

1. Đại biểu phải tham dự Hội Đồng đúng giờ và phải dự suốt thời gian đã ấn định:

a. Kỳ Hội Đồng, Đại Hội Đồng.

b. Đại biểu không được bỏ phòng họp đang cuộc họp, hoặc ra về trước khi cuộc họp kết thúc, trừ khi có lý do chính đáng được Chủ tọa Hội Đồng cho phép.

2. Nguyên tắc thảo luận:

a. Trong khi thảo luân. Đại biểu không được phê phán đích danh bất cứ cá nhân, Chi hội, hay Cơ quan nào.

b. Đại biểu phải phát biểu trước toàn thể Hội Đồng, Đại Hội Đồng chứ không tranh biện riêng tư.

c. Đại biểu chỉ được phát biểu tối đa ba (03) lần cho từng vấn đề, mỗi lần không quá năm (05) phút; nếu cần nói thêm phải được Hội Đồng, Đại Hội Đồng chấp thuận.

d. Đại biểu theo phiên thứ đã được Chủ toạ đoàn xác định mà phát biểu. Khi có người phát biểu thì mọi người khác cùng lắng nghe.

3. Thái độ của Đại biểu:

a. Mục đích của Hội Đồng, Đại Hội Đồng là để xây dựng, vì vinh danh Thiên Chúa, nên Đại biểu của Hội Đồng phải luôn có thái độ bình tỉnh, nhã nhặn, vui vẻ, dẫu khi ý kiến của mình bị bác bỏ.

b. Phải có tinh thần phục thiện, tránh thái độ cố chấp.

c. Trong các Hội Đồng đại biểu không được phép cổ động dù dưới bất cứ hình thức nào.

ĐIỀU 20: THÀNH VIÊN CÁC TIỂU BAN

1. Thành viên các Tiểu ban phải có tinh thần trách nhiệm, hòa nhã, giữ đúng thì giờ đã ấn định.

2. Không được tự tiện chọn người khác thay thế mình. Trường hợp đặc biệt, phải trình Trưởng ban sắp xếp.

ĐIỀU 21: NGƯỜI DỰ THÍNH

Người dự thính phải giữ trật tự, yên lặng trong khi Đại biểu thảo luận, tuyệt nhiên không được bày tỏ thái độ phê bình dưới bất cứ hình thức nào.

CHƯƠNG VII
NGƯỜI VI PHẠM KỶ LUẬT

ĐIỀU 22: CHỦ TỌA VÀ CHỦ TỌA ĐOÀN

1. Khi Chủ tọa vi phạm kỷ luật Hội Đồng, Đại Hội Đồng, thì Chủ tọa đoàn (Thường vụ Tổng Hội) phải nhắc nhở để Chủ tọa theo đúng kỷ luật.

2. Khi Chủ tọa đoàn (Thường vụ Tổng Hội) vi phạm thì Hội Đồng, Đại Hội Đồng phải nhắc nhở để Chủ tọa đoàn theo đúng kỷ luật.

ĐIỀU 23: ĐẠI BIỂU

1. Đại biểu đã phạm kỷ luật, Chủ tọa phải khuyến cáo đương sự. Khi đã được khuyến cáo mà Đại biểu vẫn không thay đổi thái độ, Chủ tọa phải cảnh cáo thẳng thắn.

2. Nếu Đại biểu đã được khuyến cáo và cảnh cáo thẳng thắn mà vẫn không chịu sửa đổi, Chủ tọa yêu cầu Ban trật tự Hội Đồng, Đại Hội Đồng đưa Đại biểu ấy ra khỏi phòng họp.

3. Đại biểu đã được mời ra khỏi phòng họp mà đến lần họp sau vẫn không chịu thay đổi thái độ sai trái của mình, cố ý phá rối, thì Chủ tọa yêu cầu Hội Đồng, Đại Hội Đồng truất quyền Đại biểu của đương sự.

ĐIỀU 24: THÀNH VIÊN CÁC TIỂU BAN

1. Thành viên các Tiểu ban vi phạm kỷ luật, Chủ tọa Hội Đồng, Đại Hội Đồng có quyền khuyến cáo.

2. Thành viên cố ý vi phạm kỷ luật, Chủ tọa Hội Đồng, Đại Hội Đồng có quyền miễn nhiệm đương sự.

ĐIỀU 25: NGƯỜI DỰ THÍNH

Khi người dự thính vi phạm kỷ luật, Ban trật tự Hội Đồng, Đại Hội Đồng đưa người ấy ra khỏi phòng họp.

CHƯƠNG VIII
NGHIÊM CẤM IN VÀ PHÁT TRUYỀN ĐƠN

ĐIỀU 26: Nghiêm cấm mọi người phổ biến bất cứ loại truyền đơn nào nhằm cổ xúy hoặc chống đối chính quyền. Mọi hành vi vi phạm phải được cấp thẩm quyền liên hệ chịu trách nhiệm xử lý trước Hội Thánh.

CHƯƠNG IX
QUYỀN THAY ĐỔI BẢNG GIÁO LUẬT

ĐIỀU 27: QUYỀN THAY ĐỔI BẢNG GIÁO LUẬT VÀ KỶ LUẬT

– Chỉ Đại Hội Đồng Tổng Hội của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm mới có thẩm quyền sửa đổi bản GIÁO LUẬT và KỶ LUẬT này.

– Trong trường hợp đặc biệt, việc tu chính Giáo Luật và Kỷ Luật phải được kiến nghị Ban Điều Hành Tổng Hội xét duyệt và phải được tổ chức thông qua trong Đại Hội Đồng Tổng Hội thường kỳ, với điều kiện phải được hai phần ba (2/3) tổng số Đại biểu chấp thuận.

ĐIỀU 28: TỔNG SỐ CHƯƠNG, ĐIỀU CỦA GIÁO LUẬT VÀ KỶ LUẬT

– GIÁO LUẬT và KỶ LUẬT của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm gồm có chín (09) chương và hai mươi tám (28) điều, đã được Đại Hội Đổng Tổng Hội lần VI – 09 / 2026 (25- 27/09/2026) công nhận và có hiệu lực thi hành ngay sau Đại Hội.

– Để thi hành GIÁO LUẬT và KỶ LUẬT phải căn cứ trên Kinh Thánh và Hiến chương cũng như Nội quy của Liên Đoàn Truyền Giáo Phúc Âm – Hội Thánh Phúc Âm.

– Tất cả các văn kiện trước đây trái với GIÁO LUẬT và KỶ LUẬT này đều vô hiệu lực.

LIÊN ĐOÀN TRUYỀN GIÁO PHÚC ÂM
HỘI THÁNH PHÚC ÂM
BAN ĐIỀU HÀNH TỔNG HỘI.